October 29, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Các bất thường về giải phẫu răng – P2

Rãnh nướu khẩu cái (palatogingival groove)

Là 1 khiếm khuyết xảy ra chủ yếu ở răng cửa bên hàm trên. Rãnh bắt đầu từ đường nối cingulum với 1 trong 2 gờ bên mặt trong, chạy xuống và mở rộng về phía chân răng. Rãnh nướu khẩu cái góp phần quan trọng gây bệnh nha chu bởi vì cement không thể phủ lên và dây chằng nha chu không thể bám vào phần đó.

Hình 22.8. Rãnh nướu khẩu cái và tổn thương nha chu liên quan.

 

Chân răng dư

Có thể xảy ra trên bất cứ răng nào, nhưng thường gặp nhất là răng khôn, răng nanh dưới và các răng cối nhỏ. Trên phim X quang có thể nghi ngờ chân răng dư khi ống tủy giảm kích thước đột ngột và chia thành 2 ống tủy. Chân răng dư thường gây ảnh hưởng đến việc điều trị tủy, nhổ răng và chỉnh nha.

Hình 23.1. Chân răng dư ở R6 (trái) và răng nanh (phải).

 

Hạt trai men

Là phần men răng có dạng như ngọc trai, kích thước từ 1 – 2 mm, thường xuất hiện hơi phía trên vùng chẽ các răng cối lớn, tỉ lệ ở hàm trên cao gấp 7 lần hàm dưới. Hạt trai men không chứa tủy răng. Chúng có thể góp phần gây viêm nha chu mãn tính và gây cản trở thao tác của các dụng cụ nha chu.

Hình 23.2. Hạt trai men vùng chẽ.

 

Hình 23.3. Hạt trai men trên phim.

 

Men răng mở rộng về cổ răng (cervical enamel extension)

Xảy ra ở đường nối men – cement mặt ngoài các răng cối lớn. Phần men mở rộng có dạng hình chữ V, trơn láng hoặc nhám và mở về phía vùng chẽ.

Men răng mở rộng về cổ răng (cervical enamel extension).

 

Các răng cối lớn hàm dưới gặp nhiều hơn hàm trên. Khó chẩn đoán dựa trên X quang, mà phát hiện được dựa vào đầu thám trâm hoặc cây thăm dò nha chu. Men răng mở rộng này thường gây túi nha chu và bệnh lí vùng chẽ, khi viêm nhiễm sẽ tạo thành nang, gọi là nang chẽ ngoài (buccal bifurcation cyst).

Nang chẽ ngoài.

 

Hình ảnh CBCT nang chẽ ngoài.

 

Nang được đặc trưng bởi khối thấu quang hình bán nguyệt, chồng lên chân răng ngoài, đôi lúc nang mở về phía xa. Trên phim mặt nhai thấy răng bị đẩy về phía trong.

Phim mặt nhai thấy răng bị đẩy về phía trong.

 

Chân răng gấp khúc

Chân răng bị gấp khúc, tạo góc >20 độ so với thân răng. Chân răng gấp khúc hay gặp khi răng chen chúc, chấn thương, tổn thương xương răng kế bên hoặc do lực chỉnh nha. Chân răng có thể phân kì khỏi thân răng theo tất cả các hướng, nhưng thường gặp nhất là theo hướng xa, xa ngoài hoặc xa trong.

Hình 23.5. Chân răng khôn gấp khúc.

 

Hình 28.5. Chân răng cối nhỏ và cối lớn gấp khúc.

 

Khi chân răng phân kì về phía ngoài hoặc trong thì trên X quang sẽ có hình ảnh “mắt bò”, với điểm trung tâm là ống tủy.

Hình ảnh mắt bò.

 

Chân răng gấp khúc gây khó khăn cho việc điều trị tủy, nhổ răng và chỉnh nha.

Chân răng củ hành (bulbous root)

Chân răng không có dạng thuôn mà chóp chân răng phình to ra. Chân răng củ hành là kết quả của sự tăng sinh ngà răng, chứ không phải do cement. Răng có chân răng kiểu này rất khó nhổ.

Hình 34.8. Chân răng cối nhỏ củ hành.

 

Tăng sản cement

Là sự tăng sinh cement trên bề mặt chân răng. Tăng sản cement có liên hệ với các yếu tố tại chỗ như nhiễm trùng chóp, chấn thương khớp cắn và bệnh lí toàn thân như bệnh Paget, bướu giáp, bệnh to cực, phì đại tuyến yên. Răng bị ảnh hưởng nhiều nhất là răng cối lớn, R5 và R4. Răng hàm dưới có tỉ lệ cao gấp đôi so với răng hàm trên. Tăng sản cement xảy ra chủ yếu ở 1/3 chóp chân răng, gây khó khăn cho việc nhổ.

Hình 23.6. Tăng sản cement răng cối nhỏ.

 

Răng bò mộng

Răng có dạng hình bò, thân răng lớn và chân răng ngắn, xảy ra trên các răng nhiều chân. Răng có buồng tủy giãn dài, hình chữ nhật trong khi chân răng lại rất ngắn, không có điểm thắt tại đường nối men – cement. Răng vĩnh viễn bị ảnh hưởng nhiều hơn răng sữa, răng cối lớn nhiều hơn răng cối nhỏ. Răng bò mộng thường gặp ở những bệnh nhân mắc các hội chứng di truyền như Down, Mohr, Klinefelter, ở trẻ đang điều trị ung thư.

Hình 23.7. Răng bò mộng.

 

Hội chứng răng cửa hình xẻng

Là 1 hội chứng di truyền với đặc trưng là các gờ răng cửa nhô lên, làm cho hố lưỡi lõm sâu, chân răng ngắn. Các răng cửa hàm trên dễ bị sâu xoang III và sâu hố lưỡi mặt trong.

Răng cửa hình xẻng.

 

Xem thêm phần 1 tại đây hoặc các bất thường về màu sắc răng

Nguồn: Color Atlas of Common Diseases – Robert P. Langlais, Craig S. Miller, Jill S. Gehrig.