August 8, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Đau nội nha

Tổn thương do cơ học

– Đưa dụng cụ quá chóp (H21.2).

Hình 21.2. Đưa dụng cụ quá chóp.

 

– Sót tủy hoặc sót mảnh vụn tủy (H21.3).

Hình 21.3. Sót tủy hoặc sót mảnh vụn tủy.

 

– Đẩy chất bẩn quá chóp (H21.4).

Hình 21.4. Chất bẩn + mảnh vụn mô bị đẩy quá chóp.

 

Tổn thương hóa học

  • Chất bơm rửa.
  • Thuốc đặt ống tủy.
  • Vật liệu trám bít ống tủy (H21.5).
Hình 21.5. Vật liệu quá chóp có thể gây đau.

 

Các yếu tố khác góp phần gây đau

  • Tuổi của bệnh nhân

Bệnh nhân từ 40 – 59 tuổi có nguy cơ cao hơn so với những bệnh nhân <20 tuổi.

  • Giới tính: nữ hơn nam
  • Bệnh lí toàn thân

Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với nhiều chất (thuốc, phấn hoa, bụi, thức ăn) có tỉ lệ đau cao hơn.

  • Loại răng: răng hàm dưới cao hơn răng hàm trên.
  • Sự lo lắng của bệnh nhân: bệnh nhân lo lắng nhiều thì có tỉ lệ đau cao hơn.
  • Có đau và/hoặc sưng trước điều trị hay không.
  • Tình trạng tủy răng và/hoặc mô quanh chóp (H21.6):
Hình 21.6. Răng tủy sống ít đau hơn so với răng hoại tử tủy.

 

  • Số lần hẹn

Đau thường gặp ở những ca nhiều lần hẹn hơn so với 1 lần hẹn.

  • Điều trị tủy lại: Tỉ lệ đau cao hơn gấp 10 lần.

Đau trong quá trình điều trị tủy được chia làm 2 nhóm:

  • Đau giữa các lần hẹn.
  • Đau sau trám bít ống tủy.

ĐAU GIỮA CÁC LẦN HẸN

Viêm quanh chóp do quá trình điều trị

1 răng ban đầu không có triệu chứng quanh chóp có thể sẽ đau và nhạy cảm với gõ sau quá trình điều trị.

Sử dụng côn giấy và đánh dấu chiều dài làm việc. Nếu sửa soạn quá chóp thì côn giấy sẽ đi xuống mà không bị kẹt lại. Khi rút côn giấy ra, đầu côn giấy sẽ có máu đỏ hoặc nâu chứng to không có điểm chặn chóp (H21.14).

Hình 21.14. Đầu côn giấy thấm máu.

 

Xử trí: băng thuốc ống tủy có kháng sinh – corticosteroid để làm giảm triệu chứng. Sử dụng côn giấy đưa thuốc vào và xác định lại chiều dài làm việc sau 2 – 5 ngày.

Sót tủy

Trong trường hợp này, bệnh nhân có thể nhạy cảm với nóng, lạnh hoặc gõ.

Sử dụng côn giấy và đánh dấu ngắn hơn chiều dài làm việc, đưa vào và rút ra sẽ thấy có máu đỏ hoặc nâu.

Xử trí: xác định lại chiều dài làm việc và thử lại như trên.

Viêm quanh chóp mãn bùng phát (abscess Phoenix)

Xảy ra trên răng hoại tử tủy, có tổn thương quanh chóp nhưng không có triệu chứng. Nguyên nhân được cho là sự thay đổi môi trường trong ống tủy trong suốt quá trình sửa soạn, làm cho hệ vi khuẩn hoạt động trở lại.

Xử trí: Bơm rửa bằng nước muối ấm để tăng cường dẫn lưu. Thực hiện dẫn lưu cho đến khi ngừng chảy dịch hoặc thoát 1 chút huyết thanh rõ ràng. Sau đó bơm rửa ống tủy bằng Natri hypochloride, lau khô bằng côn giấy, băng thuốc (như canxi hydroxit), đặt gòn và trám tạm lại.

Đau sau nội nha trường hợp tủy hoại tử (H21.16).

Hình 21.16. R36 sâu lớn + hoại tử tủy.

 

Răng hoại tử tủy thường bị abscess quanh chóp cấp sau lần điều trị đầu tiên.

Xử trí: Bơm rửa ống tủy thật nhiều, đặt thuốc ống tủy như canxi hydroxit. Kéo dài thời gian bơm rửa để tạo điều kiện cho vi khuẩn trong ống tủy tiếp xúc với các chất như Hydrogen peroxide, Natri hypochloride giúp giảm nguy cơ đau sau điều trị.

 

ĐAU SAU TRÁM BÍT ỐNG TỦY

Đau sau trám bít ống tủy thường ít gặp hơn so với đau giữa các lần hẹn. Bệnh nhân đau nhiều trước điều trị thì cũng thường đau nhiều sau điều trị. Nguyên nhân thường gặp khác là do trám bít quá chóp.

Xử trí: Đau nhẹ và vừa thì có thể kê thuốc giảm đau. Đối với trường hợp đau nhiều thì cần chỉ định điều trị lại, đôi lúc phải kết hợp phẫu thuật nội nha.

 

Kiểm soát đau khi điều trị nội nha

  • Chẩn đoán đúng.
  • Sử dụng thuốc tê có tác dụng tê kéo dài.

Chẳng hạn như Bupivacaine cho tác dụng tê kéo dài đến 8 – 10 tiếng.

  • Xác định đúng chiều dài làm việc.
  • Loại bỏ hoàn toàn mảnh vụn mô và vi khuẩn.
  • Giữ lỗ chóp răng thông thoáng, không bị tắc nghẽn và sửa soạn ống tủy theo phương pháp crown-down.
  • Hạ thấp khớp cắn

Áp dụng cho những răng có chỉ định bọc mão, để tránh những kích thích cơ học lên vùng chóp răng mới điều trị.

  • Thay thuốc đặt ống tủy giữa các lần hẹn, như canxi hydroxit, chlorhexidine gluconate và Kali Iodine. Nên tránh sử dụng các thuốc phenolic vì có nguy cơ gây quá mẫn.
  • Sử dụng thuốc

Kháng sinh, giảm đau (NSAIDs)

  • Kiểm soát hành vi

Giải thích và trấn an bệnh nhân là 1 bước quan trọng để giảm sự lo lắng của bệnh nhân.

Nguồn: Textbook Of Endodontics – Anil Chandra