October 6, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Giữ khoảng ở răng trẻ em – P2

Khâu và loop

Khâu và loop hầu hết được sử dụng để giữ khoảng 1 bên, đôi khi được sử dụng cả 2 bên ở hàm dưới trước khi răng cửa vĩnh viễn mọc. Răng sữa hoặc răng vĩnh viễn được gắn khâu. Sử dụng dây tròn 0.036 inch để bẻ loop. Loop phải đủ lớn để cho phép răng cối nhỏ vĩnh viễn mọc (H16.11 và 16.12).

Hình 16.11. Khâu và loop với loop lớn.

 

Hình 16.12. R5 vĩnh viễn hàm dưới mọc lên bên trong loop.

 

Cung khẩu cái

R6 hàm trên được gắn khâu, sử dụng dây tròn 0.036 – 0.04 inch bẻ uốn cho đi qua phần khẩu cái cứng phía sau và nối với khâu ở phần hàm bên kia.

Hình 16.13. Cung khẩu cái khi mất R5 sữa sớm 1 bên.

 

Khí cụ này giúp ngăn R6 nghiêng gần và chỉ sử dụng khi mất sớm R5 sữa 1 bên. R5 sữa bên còn lại giúp hạn chế sự xoay quanh trục chân trong của R6 (là nguyên nhân gây mất khoảng).

Loop omega có thể được  sử dụng kết hợp với cung khẩu cái để đặt 1 lực nhẹ phía xa, giảm sự xoay của R6 (H16.14).

Hình 16.14. Cung khẩu cái với loop omega khi mất R5 sữa 1 bên.

 

Khí cụ Nance

Sử dụng khi mất R5 sữa hàm trên 1 bên hoặc 2 bên. R6 được gắn khâu, dây khẩu cái được gắn thêm 1 nút nhựa có tiếp xúc với các nếp nhăn khẩu cái (H16.15).

Hình 16.15. (a) Khí cụ Nance khi mất R5 sữa 1 bên. (b) Khí cụ Nance cho mất R5 sữa 2 bên.

 

Nhược điểm của khí cụ Nance là nhét thức ăn dưới nút cao su gây kích thích mô mềm. Có thể hướng dẫn bệnh nhân sử dụng kim bơm rửa tại nhà.

Cung lưỡi

Được chỉ định khi mất R5 sữa 2 bên sau khi đã mọc các răng cửa vĩnh viễn để tránh sự di chuyển các răng này. Nếu các răng cửa hàm dưới bị mọc lệch trong thì đợi 2 – 3 tuần để chúng tự điều chỉnh vị trí đúng trên cung răng. Nếu có răng cửa sữa còn tồn tại gây ra mọc lệch trong của răng cửa vĩnh viễn thì nên nhổ đi (H16.16).

Hình 16.16. (a) Răng cửa giữa hàm dưới mọc lệch trong và cung lưỡi gây cản trở sự mọc răng. (b) Cung lưỡi được thực hiện sau 3 tuần, khi răng cửa vĩnh viễn đã vào đúng vị trí.

 

R6 hoặc R5 sữa được gắn khâu, sử dụng dây tròn 0.036 – 0.04 inch hàn vào mặt trong của khâu. Dây cung nên tiếp xúc với mặt trong tất cả các răng cửa hàm dưới (H16.17).

Hình 16.17. Cung lưỡi.

 

Chiếc giày phía xa

Được chỉ định khi mất R5 sữa mà R6 chưa mọc. Chiếc giày phía xa ngăn sự di gần của R6 vĩnh viễn trong quá trình mọc. Nên chụp 1 phim quanh chóp để xác định vị trí đang mọc của R6. Nên gửi cả phim quanh chóp và mẫu hàm thạch cao cho labo để đúc bộ giữ khoảng trước khi nhổ R5 sữa. Gắn bộ giữ khoảng trong cùng 1 buổi hẹn với ngày nhổ để tránh đi lại nhiều lần và tránh phải chích thuốc tê nhiều lần. R4 được gắn khâu với dây cung tròn 0.036 – 0.04ninch mở về phía xa, đặt dưới nướu từ 1 – 1.5 mm dưới gờ nướu của R6 chưa mọc (H16.18).

Hình 16.18. Bộ giữ khoảng chiếc giày phía xa.

 

Đặt thử bộ giữ khoảng lên và chụp phim kiểm tra trước khi gắn để đánh giá vị trí lưỡi giày với vị trí R6. Nếu phải điều chỉnh thì sử dụng mũi carbide tay nhanh để mài chỉnh. Lưỡi giày dưới nướu sẽ hướng dẫn R6 vĩnh viễn mọc lên. Tái khám mỗi 2 tháng để kiểm tra tình trạng bộ giữ khoảng. Bộ giữ khoảng chiếc giày phía xa sẽ được thay bằng khí cụ khác khi R6 đã mọc lên. Bộ giữ khoảng chiếc giày thường không được sử dụng nhiều do phải theo dõi liên tục và nguy cơ nhiễm trùng khi vệ sinh răng miệng kém. Chống chỉ định bộ chiếc giày ở những trẻ em suy giảm miễn dịch. Đối với răng hàm trên thì chú ý không làm thủng sàn xoang hàm.

Thử khâu và lấy dấu để làm khí cụ

Sử dụng khâu bằng thép không gỉ, cây tháo khâu và cây ấn khâu (H16.19).

Hình 16.19. Cây tháo khâu, khâu, cây ấn khâu và cây định vị khâu.

 

Nếu không có đủ vật liệu dụng cụ để thử khâu hoặc trẻ không hợp tác khi thử khâu thì việc thử khâu có thể thực hiện trên mẫu hàm tại labo. Đôi khi đặt thun tách kẽ giữa R6 và R5 sữa có thể giúp mở rộng khoảng tiếp xúc và đặt khâu dễ dàng hơn. Thun tách kẽ có thể được đặt trong khoảng 1 tuần. Đo kích thước răng sẽ gắn khâu bằng thước Boley có thể giúp lựa chọn đúng kích thước khâu phù hợp khi thử. Sử dụng cây ấn khâu, cây định vị khâu hoặc đôi khi là que đè lưỡi để gắn.

Nên lấy dấu bằng vật liệu nhanh đông. Chỉ cho vật liệu vào 1 nửa khay hoặc khay bán hàm để lấy dấu cho khâu và loop (H16.20 a, b).

Hình 16.20. (a) Cho vật liệu vào 1 nửa khay khi lấy dấu làm khâu và loop. (b) Khay bán hàm.

 

Nếu bệnh nhân có phản xạ nôn thì cho bệnh nhân đặt bàn chân lên ghế, gấp gối lại trong khi lấy dấu (H16.21).

Hình 16.21. Co chân lại giảm phản xạ nôn trong khi lấy dấu.

 

Nếu trẻ khóc khi lấy dấu thì sử dụng cao su đặc để lấy dấu thay vì alginate để tránh nuốt phải vật liệu.

Sử dụng cây tháo khâu để tháo khâu từ phía ngoài hoặc phía trong sau khi lấy dấu xong (H16.22 a, b).

Hình 16.22. (a) Tháo khâu từ mặt ngoài. (b) Tháo khâu từ mặt trong.

 

Khâu được đặt lại vào trong dấu cho đúng vị trí như trong miệng. Khâu không nằm đúng vị trí hoặc bị di động khi đổ mẫu có thể dẫn đến sai mẫu. Có thể đặt 1 cái ghim bấm lên để cố định khâu (H16.23 – 16.26).

Hình 16.23. Ghim bấm.

 

Hình 16.24. (a) Đặt ghim vào khâu để giữ khâu trong dấu. (b) Sử dụng kềm Howe để bẻ ghim ôm lấy khâu.

 

Hình 16.26. Mẫu thạch cao với khâu.

 

Hình 16.27. Bộ giữ khoảng được đúc xong.

 

Xem lại phần 1 tại đây.

Nguồn: Handbook of Clinical Technique in Pediatric Dentistry – Jane A. Soxman