September 15, 2021

Nhasiupdate

Chuyên trang RHM

Kiểm soát sâu răng ở trẻ em

Các bác sĩ nên làm quen với 3 loại hình sâu răng chính thường gặp ở răng sữa, đó là: sâu răng trẻ em khởi phát sớm (early childhood caries – ECC), sâu răng trẻ em khởi phát muộn (late childhood caries – LCC) và sâu răng liên quan đến thiểu sản R5 sữa (primary second molar hypoplasia with carious involvement – PSMH-C).

Sâu răng trẻ em khởi phát sớm (ECC) chỉ giới hạn dưới 3 tuổi.

Sâu răng trẻ em khởi phát muộn (LCC) xuất hiện sau khi đã có sự đóng khoảng giữa R4 sữa và R5 sữa. Sự đóng khoảng này ở răng sữa thường vào tầm 4 tuổi, tương ứng với sự xuất hiện của mầm R6.

Sâu răng liên quan đến thiểu sản R5 sữa (PSMH-C) xuất hiện ngay sau khi R6 mọc lên, và đôi khi nó có thể là dấu hiệu đầu tiên của chứng giảm khoáng hóa răng cối – răng cửa (molar-incisor hypomineralization – MIH) (liên quan đến R6 và răng cửa vĩnh viễn hàm trên).

ECC trước đây được gọi là sâu răng bú bình hay sâu răng bú đêm. Biểu hiện lâm sàng kinh điển của ECC là sự sâu sớm các răng cửa sữa hàm trên, có thể có thêm R4 sữa bởi những răng này đang trong quá trình tiếp xúc với chất lỏng có chứa đường, bao gồm sữa mẹ và các loại sữa tổng hợp khác. Vị trí của lưỡi trong khi bú sữa hoặc uống sữa từ chai đã che đi các răng cửa dưới, ngăn dung dịch chứa đường tiếp xúc với những răng này. Sâu răng loại này thường xuất hiện trước 3 tuổi (Martha Ann Keels, Erica A. Brecher, 2019).

Nói cách khác, cho đến 36 tháng tuổi, nếu đứa trẻ không có tổn thương sâu răng nghiêm trọng nào trên các răng cửa hàm trên thì dường như rất khó để những răng này bị sâu về sau. ECC còn được quan sát thấy trên các R4 sữa, sâu bắt đầu từ mặt nhai, sau đó lan rộng về phía bên, gần hoặc xa.

Trong 1 sơ đồ đánh giá 25 năm chăm sóc nha khoa trẻ em ở 1 đô thị, cung cấp dịch vụ chăm sóc nha khoa cho hơn 6000 trẻ em, từ trẻ sơ sinh cho đến trẻ 21 tuổi, thì quan sát được 3 loại hình sâu răng chính (Martha Ann Keels, Erica A. Brecher, 2019) (Hình 1).

Hình 1. Tỉ lệ 3 loại hình sâu răng sữa.

 

25% trẻ sâu 4 răng cửa sữa hàm trên, có thể có hoặc không sâu các R4 sữa (Hình 2).

Hình 2. Sâu răng ECC điển hình với 4 răng cửa sữa hàm trên và R4 sữa bị ảnh hưởng.

 

Hầu hết sâu ECC là trẻ dưới 3 tuổi.

Loại hình sâu răng thứ 2 ảnh hưởng đến phần lớn trẻ em là sâu kẽ, liên quan đến mặt xa R4 sữa và mặt gần R5 sữa (Hình 3).

Hình 3. Phim cánh cắn 2 bên cho thấy hình ảnh sâu LCC ở trẻ 4 tuổi, cả 8 mặt tiếp xúc đều bị sâu và không phát hiện thêm sâu răng ở vị trí nào khác.

 

70% sâu răng ở trẻ là thuộc nhóm LCC. Trẻ bị sâu LCC nghiêm trọng thường đặc trưng bởi tình trạng răng chen chúc, thiếu khoảng các răng sau. Sự đóng khoảng sinh lí giữa R4 và R5 sữa xảy ra vào tầm 4 tuổi. Răng sữa vẫn tồn tại khe hở này thì ít sâu LCC hơn. Phân biệt LCC với ECC chủ yếu dựa vào tổn thương trên R4 sữa. Ở LCC, sâu răng bắt đầu từ mặt tiếp xúc, tiến triển dần làm các sườn múi bị phá hủy, lúc đó sẽ nhìn thấy được từ mặt nhai. Với ECC, sâu răng ở R4 sữa xuất phát từ mặt nhai, lan rộng sang phía bên, ngược lại hoàn toàn với LCC.

Loại hình sâu răng thứ 3, ít phổ biến hơn cả, là sâu răng có liên quan đến thiểu sản men ở 4 R5 sữa (Hình 4).

Hình 4. Ví dụ điển hình sâu PSMH-C. Vị trí mũi tên là các R5 sữa bị ảnh hưởng.

 

Trẻ sâu PSMH thì thường không thấy sâu răng ở vị trí nào khác. Sâu răng loại này thường xuất hiện sau khi R5 sữa mọc lên, tầm khoảng 23 đến 33 tháng tuổi.

Có 1 số trẻ lớn hơn 3 tuổi, được chẩn đoán là sâu răng phối hợp và phức tạp nhưng bài này chỉ đề cập đến 3 loại hình sâu răng chủ yếu nói trên.

Phòng ngừa và kiểm soát ECC

Giáo dục bà mẹ trong quá trình mang thai về việc xây dựng thói quen vệ sinh răng miệng tốt cho chính bản thân và cho cả trẻ. Cung cấp hệ thống chăm sóc sớm, khuyến khích hình thành thói quen răng miệng tốt, thành lập nha khoa tại nhà vào tầm 1 tuổi cũng rất quan trọng trong phòng ngừa ECC. Chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày với kem đánh răng Fluoride (0.1 mg Fluoride), mỗi lần sử dụng kem đánh răng không được quá kích thước hạt gạo. Tư vấn chế độ ăn uống liên quan đến nguy cơ sâu răng của việc thường xuyên ăn và uống thực phẩm chứa nhiều carbohydrate hoặc axit. Nhấn mạnh tác hại của việc ăn và uống đêm ở trẻ. Đánh giá và thăm khám sâu răng định kì mỗi  6 tháng.

Để ổn định tình trạng sâu răng, trẻ có thể được bôi Fluoride tại phòng nha, hoặc trám phục hồi với GIC, glass ionomer phối hợp nhựa (RMGI) hay composite. Nếu tổn thương không thể phục hồi bằng trám thì răng được chỉ định mão. Nếu phải lấy tủy thì sử dụng thuốc trám bít dễ tiêu, chẳng hạn như oxide Kẽm với Eugenol. Nếu không thể chữa được thì răng chỉ định nhổ. Nhổ răng cửa sữa chỉ nên đặt bộ giữ khoảng nếu trẻ có thói quen xấu như mút tay.

Phòng ngừa và kiểm soát LCC

Mục tiêu phòng ngừa là làm phá vỡ mảng bám răng tích tụ ở mặt tiếp xúc các R4 và R5 sữa, quan trọng nhất là xỉa răng bằng chỉ nha khoa (flossing). Hujoel và cộng sự đã tổng kết 1 cách có hệ thống hiệu quả của việc dùng chỉ nha khoa, giúp giảm tới 40% nguy cơ sâu răng mặt tiếp xúc đối với trẻ từ 4 đến 13 tuổi. Trẻ ở độ tuổi này không thể tự dùng chỉ nha khoa, do đó cần hướng dẫn cho bố mẹ cũng như thầy cô, người chăm sóc trẻ tại trường biết cách vệ sinh cho trẻ. Trẻ có khoảng hở giữa các R4 và R5 sữa thì mặt tiếp xúc dễ được làm sạch hơn dưới tác dụng của hoạt động nhai, của nước bọt hay nước uống, nước súc miệng, và ít có khả năng sâu kẽ hơn. Tránh ăn các loại thức ăn carbohydrate dính, khuyến khích ăn nhiều loại thức ăn không chứa đường hoặc axit. Chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày. Đối với trẻ từ 3 – 6 tuổi thì lượng kem đánh răng bằng cỡ hạt đậu (0.25 mg Fluoride) để ngăn ngừa sâu răng đồng thời không gây nhiễm Fluoride. Cũng có thể bôi vec-ni Fluoride tại phòng nha ít nhất 2 lần mỗi năm. Khi tổn thương sâu răng tạo lỗ nhỏ, trám phục hồi với GIC, RMGI, composite hoặc phục hồi bằng mão. Nếu phải chỉ định lấy tủy buồng thì nên sử dụng thuốc MTA hoặc formocresol. R5 sữa có thể cố gắng giữ lại bằng cách lấy tủy chân, nếu không thể giữ được thì chỉ định nhổ, sau đó chỉ định bộ giữ khoảng cho phù hợp.

Phòng ngừa và kiểm soát PSMH

Bệnh sinh PSMH vẫn chưa hoàn toàn được sáng tỏ và rất khó để phòng ngừa sự thiểu sản. Các nghiên cứu cho đến nay về nguyên nhân của quá trình giảm khoáng hóa răng cối-răng cửa (molar-incisior hypomineralization – MIH) trên bộ răng vĩnh viễn đã xác định được là có liên quan đến tình trạng nhiễm trùng kéo dài trong giai đoạn khoáng hóa răng. Vẫn còn nhiều câu hỏi được đặt ra là liệu có liên quan đến tình trạng sốt hoặc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh không. Đối với y tế cộng đồng, 1 điều quan trọng cần lưu ý là phải kiểm soát nhiễm trùng 1 cách thận trọng và giảm sốt càng nhanh càng tốt để giảm nguy cơ hình thành các răng thiểu sản.

Tại nha khoa thì bôi vec-ni Fluoride được chỉ định cho đến khi lập được kế hoạch phục hồi sau cùng. Tùy thuộc vào lượng mô răng bị ảnh hưởng mà bác sĩ có thể chỉ định mài tròn góc cạnh, tạo bề mặt dễ dàng vệ sinh bằng các vật liệu như sealant, GIC, composite, mão răng. Nếu răng không thể hồi phục được thì chỉ định nhổ, sau đó thực hiện bộ giữ khoảng phù hợp.

Nguồn: Caries Management, Dental Clinic of North America, Sandra Guzman Armstrong, Margherita Fontana, Marcelle M. Nascimento, Andrea G. Ferreira Zandona.