November 28, 2022

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Phục hình dán không kim loại – quan điểm về phục hồi thẩm mỹ cho nhóm răng sau

 

Việc phòng ngừa và cải thiện thói quen vệ sinh răng miệng ngày càng làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc các bệnh lý răng miệng và nhu cầu điều trị phục hình. Điều này dần dần đặt ra các câu hỏi về quan điểm điều trị truyền thống và đặt nha khoa phục hồi vào một vị trí trung tâm, tạo ra động lực mới cho các kĩ thuật điều trị bảo tồn hơn (H1-2 đến H1-4).

 

 

 

Một vật liệu phục hồi lí tưởng phải đáp ứng đầy đủ các chức năng cơ bản sau đây:

– Cho phép sửa soạn xoang trám theo cách bảo tồn nhất.

– Phục hồi tối ưu hình thái và sức đề kháng cơ học ban đầu của răng để đảm bảo về mặt chức năng.

– Đảm bảo khít sát cả bên trong lẫn bên ngoài, bịt kín xoang trám để ngăn ngừa sâu răng tái phát, tổn thương tủy răng và nhạy cảm ngà.

– Tương thích sinh học với mô răng bên dưới.

– Tuổi thọ cao.

Hiện nay vẫn không có một loại vật liệu kim loại truyền thống nào đáp ứng một cách thỏa đáng những yêu cầu nói trên. Với amalgam, nứt gãy răng, đổi màu răng đã và vẫn đang là những trở ngại thường gặp (H1-5 đến H1-8).

 

Với miếng trám bằng vàng, đặc biệt là ở răng cối nhỏ, đòi hỏi phải sửa soạn xoang trám quá xâm lấn, dẫn đến việc làm phá hủy quá nhiều mô răng (H1-9).

 

 

Mặt khác, tính độc hại của amalgam và các nguyên tố kim loại khác khi sử dụng trong miệng đang còn gây tranh cãi, mặc dù vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chắc chắn. Sự lo ngại của bệnh nhân về khả năng gây độc hại của thủy ngân dẫn đến việc vật liệu kim loại truyền thống ngày càng bị bệnh nhân từ chối lựa chọn.

Đạt được độ thẩm mỹ tự nhiên và đảm bảo chức năng là yêu cầu cuối cùng và có lẽ là thách thức lớn nhất đối với phục hồi trên nhóm răng cối, và nó dần dần trở thành mối quan tâm lớn đối với cả bệnh nhân và bác sĩ. Các kĩ thuật và vật liệu phục hồi dán hiện đại có thể điều trị thẩm mỹ cho hầu hết các răng sau với khả năng thành công cao, miễn là có chỉ định phù hợp (H1-11 đến H1-13).

 

Mối quan tâm đến thẩm mỹ khi phục hồi cho các răng sau không phải là quan điểm hiện đại mà nó đã có từ rất lâu trước đây. Năm 1856, inlay sứ đúc đã được sử dụng như một phục hồi thẩm mỹ. Một ví dụ khác nữa là sự phát triển của inlay sứ nung vào năm 1882 bởi Herbst ở Đức, được báo cáo lần đầu tiên trong tài liệu nha khoa bởi Bruce vào năm 1891. Có một điều thú vị là inlay sứ đã được giới thiệu trong ngành nha trước cả amalgam (1895). Tuy nhiên, việc không có vật liệu dán đạt yêu cầu là một trở ngại rất lớn đối với thành công trên lâm sàng của những kĩ thuật dán sứ lúc đó. Cho đến thời gian gần đây thì hệ thống dán và etching sứ mới được đưa vào sử dụng kết hợp để dán các phục hồi lên răng một cách hiệu quả hơn (H2-1).

Vào những năm trước đây, các vật liệu và kĩ thuật phục hồi thẩm mỹ cho nhóm răng cối hầu như không thể cạnh tranh nổi với vật liệu amalgam hoặc vàng (H2-2, H2-3) vì những thiếu sót về mặt sinh học và lý hóa của chúng (H2-4).

Trên thực tế, độ bền của phục hồi thẩm mỹ bị giới hạn bởi sự xuống cấp đường viền, mòn và thất bại cơ học. Do đó, sâu tái phát, tổn thương tủy răng hoặc mất chức năng là những kết quả lâm sàng phổ biến. May mắn thay, những cải tiến gần đây về các đặc tính cơ học, sự phát triển của các kỹ thuật mới và đa dạng đã giúp cho việc sử dụng các vật liệu này trên nhóm răng cối trở nên chất lượng hơn (H2-5).

 

Hiệu quả của liên kết với ngà răng dường như cũng thay đổi rất nhiều tùy theo chất lượng ngà răng (ngà lành hay sâu, non hay xơ cứng) và vị trí (ngà cổ răng hay thân răng, trên bề mặt hay ở dưới sâu). Nghiên cứu hiện tại cũng nhấn mạnh tác dụng của axit etching đối với ngà răng để cải thiện sự thâm nhập của nhựa vào mạng lưới collagen, tránh gây biến tính và suy yếu collagen (H3-6).

 

Ngày nay, sự co ngót do trùng hợp vẫn là nhược điểm chính của tất cả các loại vật liệu composite. Nhược điểm cố hữu này của các thế hệ sản phẩm cũ và cả sản phẩm mới đưa đến nhu cầu cần thiết phải cải thiện độ bám dính vào ngà răng và phát triển các kỹ thuật trám nhằm duy trì độ ổn định và khả năng bịt kín của các phục hồi dán.

Hầu hết các sản phẩm thế hệ mới trên thị trường hiện nay đều có những đặc điểm lý hóa giống nhau. Lựa chọn sử dụng trên lâm sàng liên quan nhiều đến việc thao tác, kỹ thuật trám và chỉ định hơn là các đặc tính nội tại của chúng. Khả năng chống mài mòn có thể thay đổi đáng kể giữa các loại sản phẩm khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các vật liệu composite hiện đại đều có biểu hiện mòn tương tự như amalgam hoặc men răng tự nhiên, cho dù nó là composite loại tốt nhất, điều này khiến chúng trở thành ứng lựa chọn hợp lý để sử dụng cho các răng sau.

Các kỹ thuật phục hồi thẩm mỹ cho răng sau có thể được phân loại thành ba nhóm (H4-1): các kỹ thuật “trực tiếp” chỉ bao gồm các thủ thuật trong miệng và thực hiện trong một lần hẹn duy nhất, kỹ thuật “bán trực tiếp” bao gồm các bước trong miệng hoặc ngoài miệng để tạo ra các phục hồi tại ghế, sau đó gắn trong cùng lần hẹn, và kỹ thuật “gián tiếp”, yêu cầu một vài lần hẹn và sự hợp tác của labo để chế tác phục hồi.

Những thuật ngữ này (trực tiếp, bán trực tiếp và gián tiếp) giúp đơn giản hóa và làm rõ việc phân loại nhiều quy trình phục hồi hiện nay cũng như các chỉ định tương ứng của chúng.

Các bác sĩ lâm sàng đều đồng ý rằng, kĩ thuật phục hồi trực tiếp chỉ nên thực hiện cho những lỗ sâu có kích thước từ nhỏ đến trung bình (H4-4 a-d)

Những xoang I, xoang II có kích thước lớn cũng như những phục hồi bán phần thì thường ưu tiên chỉ định phục hồi dán, lý tưởng nhất là có thể khôi phục một răng đơn lẻ hoặc một số răng giới hạn (hai đến ba răng phân bố trong các phần hàm khác nhau) bằng cách sử dụng kỹ thuật bán trực tiếp.

Nếu phải điều trị nhiều răng trên dưới cùng một lúc thì thường khó tạo được hình thể mặt nhai đúng giải phẫu và khớp cắn chức năng do các quy trình cơ bản của kỹ thuật bán trực tiếp như điêu khắc mặt nhai mà không có răng đối kháng phù hợp. Do đó, các kỹ thuật gián tiếp nên được chỉ định cho phục hồi toàn bộ cung răng hoặc từng phần hàm (H4-4 i-l).

 

 

Các phục hồi dán được thực hiện tại labo sẽ giúp kiểm soát khớp cắn và đạt thẩm mỹ tốt hơn. Đối với những phục hồi mở rộng (onlay hoặc overlay) thì thực hiện bằng kỹ thuật gián tiếp cũng được khuyến cáo.

 

Khi sửa soạn xoang theo lối truyền thống, chẳng hạn như khi trám amalgam, việc thiết kế vùng lưu ở mặt bên có thể dẫn đến mất quá nhiều mô răng, đặc biệt là ở răng cối nhỏ (H4-6).

Rõ ràng là mức độ phục hồi có thể khác nhau trong cùng một cung hàm và do đó đòi hỏi phải có kế hoạch điều trị khác biệt. Trên thực tế, các kỹ thuật trực tiếp, bán trực tiếp và gián tiếp có thể và phải được kết hợp thường xuyên.

 

 

Việc mài sửa soạn răng cho phục hồi dán phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn mô răng tối đa. Ở nhóm răng sau, điều này nghĩa là phải cố gắng bảo tồn một số cấu trúc răng quan trọng như gờ bên, cầu men, cấu trúc mặt nhai lành mạnh ngay cả khi men răng không có ngà răng nâng đỡ (H5-5).

Tuy nhiên, hình dạng xoang phụ thuộc trước hết là vào mức độ sâu răng hoặc hình dạng của miếng trám cũ. Lượng mô răng lành còn lại và hình thái tương ứng của chúng sẽ xác định loại vật liệu và kỹ thuật nào được chỉ định tốt nhất. Sự lựa chọn này sẽ ảnh hưởng đến hình dạng xoang sau cùng và thiết kế đường viền (đường hoàn tất) (H5-6 và 5-7)……

 

 

…..

Sách được biên dịch từ cuốn “Adhesive Metal-free Restorations – Current concepts for the esthetic treatment của posterior teeth” của tác giả Didier Dietschi, Roberto Spreafico, cùng một vài tham khảo từ các website khác.

Liên hệ admin để mua sách tại đây.