September 14, 2021

Nhasiupdate

Chuyên trang RHM

Phục hình tháo lắp toàn hàm – P1

Khi đến với 1 ca phục hình tháo lắp toàn hàm, buổi hẹn đầu tiên thường là buổi hẹn mất nhiều thời gian nhất, vì phải thăm khám, chẩn đoán, tư vấn và giáo dục những kiến thức căn bản cho bệnh nhân.

Dấu sơ khởi là công cụ đầu tiên giúp chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị và để thực hiện khay lấy dấu cá nhân. Khay lấy dấu làm sẵn thường không thể khít sát đối với tất cả bệnh nhân, nó đơn giản chỉ là phương tiện giúp đưa vật liệu lấy dấu vào miệng để hỗ trợ việc tạo ra 1 khay lấy dấu cá nhân chuẩn xác hơn.

Có 2 loại vật liệu thường dùng để lấy dấu sơ khởi là hợp chất nhiệt dẻo (modeling compound) và hydrocoloid. Hợp chất nhiệt dẻo là vật liệu đặc trưng hay sử dụng cho bệnh nhân mất răng toàn bộ. “Nhiệt dẻo” (thermoplastic) nghĩa là nó mềm khi làm nóng và cứng lại khi để nguội. Hợp chất nhiệt dẻo thường được sản xuất dưới 2 dạng là dạng bánh và dạng thỏi, trong đó dạng thỏi được sử dụng phổ biến để làm vành khít cho khay.

Hợp chất nhiệt dẻo màu xanh lá (green compound) có nhiệt độ làm việc trên 123 độ F (khoảng 51 độ C) và hợp chất nhiệt dẻo màu đỏ (red compound) có nhiệt độ làm việc trên 132 độ F (khoảng 56 độ C). Vật liệu phải được nhúng vào nước để đạt nhiệt độ phù hợp và không làm phỏng bệnh nhân. Đối với hợp chất nhiệt dẻo màu xanh lá, nhúng trong nước nóng 140 độ F (khoảng 60 độ C) là đủ để làm mềm dẻo vật liệu và tạo hình dạng mong muốn.

Loại vật liệu thứ 2 thường dùng cho lấy dấu sơ khởi là hydrocoloid không hoàn nguyên (alginate). Thời gian làm việc của alginate phụ thuộc vào hàm lượng Natri Phosphate. Nhiệt độ và lượng nước dùng để trộn cần chính xác, nhiệt độ nước tốt nhất là ở nhiệt độ phòng (70 độ F).

Lấy dấu sơ khởi

Nếu bệnh nhân đã có hàm giả trước đó thì dùng hàm giả của bệnh nhân đặt vào khay làm sẵn để lựa chọn khay phù hợp (H2.1).

Hình 2.1. Sử dụng hàm giả cũ của bệnh nhân để xác định kích thước khay lấy dấu phù hợp.

 

Nếu bệnh nhân không có hàm giả, bác sĩ có thể dùng ngón trỏ và ngón giữa để đo bề ngang sống hàm, sau đó dùng khoảng vừa đo để chọn khay nhanh. Khay phải hở ra 3 – 4 mm so với bề mặt sống hàm, đối với hàm dưới phải phủ tới vùng hậu hàm và đối với hàm trên phải lấy được hõm chân bướm hàm (pterygomaxillary notch). Thêm sáp xanh vào viền khay (H2.2 và 2.3) giúp lấy dấu đúng toàn bộ phần hàm mở rộng đồng thời giảm khó chịu cho bệnh nhân.

Hình 2.2 và 2.3. Thêm sáp xanh vào viền khay.

 

Sau khi thêm sáp xanh vào toàn bộ viền khay thì nhúng khay vào nước ấm (H2.4).

Hình 2.4. Nhúng khay vào nước ấm.

 

Nhờ vậy, sáp sẽ mềm ra, giúp ôm sát ngách hành lang miệng bệnh nhân. Dùng tay để nắn ép phần sáp xanh khi đang trong miệng bệnh nhân để sáp vẫn dính sát với viền khay.

Hình 2.14. Massage môi má để làm rõ giới hạn đường viền khay.

 

 

Hình 2.15. Lấy khay ra khỏi miệng thật cẩn thận để không làm biến dạng sáp.

 

Sau đó nhúng khay vào nước lạnh trước khi cho alginate vào, vì alginate nhanh đông hơn khi khay còn ấm, khiến cho dấu có thể thiếu chính xác.

Hình 2.5. Sử dụng gương để banh môi má khỏi chạm khay.

 

 

Hình 2.6. Dụng cụ vật liệu cần thiết để lấy dấu sơ khởi.

 

 

Hình 2.9. Trộn đều alginate với nước cho đến khi mịn.

 

 

Hình 2.10. Cho alginate vào đầy khay.

 

 

Hình 2.11. Ấn và giữ khay.

 

 

Hình 2.13. Các mốc giải phẫu quan trọng hàm dưới.

 

Khi lấy dấu hàm dưới, bệnh nhân phải uốn cong lưỡi lên sau khi đã ấn khay xuống, sau đó đưa lưỡi qua trái và qua phải, lặp lại vài lần trong khi chờ alginate đông cứng.

Nên lấy dấu hàm dưới trước vì nó ít gây nôn hơn so với lấy dấu hàm trên.

Nếu bệnh nhân có phản xạ nôn thì cho bệnh nhân hơi cúi về phía trước (H2.21). Hoặc có thể cho bệnh nhân giơ chân cao lên trong suốt quá trình chờ vật liệu đông cứng.

Hình 2.21. Cho bệnh nhân hơi cúi về phía trước để làm giảm phản xạ nôn.

 

 

Sử dụng gương để gạt bỏ phần alginate thừa trào ra khỏi khay (H2.22).

Hình 2.22

 

Chú ý những vị trí lộ sáp không có nghĩa là phải lấy dấu lại (H2.25).

Hình 2.25

 

Hình 2.26 và 2.27. Các mốc giải phẫu quan trọng hàm trên.

 

 

Đổ mẫu

Khi đổ mẫu phải bắt đầu rót thạch cao vào từ vị trí trung tâm của khay hoặc từ phía xa 1 bên khay, sau đó nghiêng khay để thạch cao tràn đều, nhằm tránh tạo bọt.

Hình 2.30

 

Đế mẫu hàm nên dày khoảng 13 mm và vùng rìa quanh mẫu hàm nên rộng khoảng 3 – 4 mm (H2.32 và 2.33).

Hình 2.32 và 2.33. Đế mẫu hàm nên dày 13 mm hoặc hơn.

 

 

Hình 2.34 và 2.35. Rìa quanh mẫu hàm nên rộng 3 – 4 mm để bảo vệ biên giới nền hàm.

 

 

Thực hiện khay lấy dấu cá nhân

Vẽ đường viền trên mẫu hàm bằng bút chì cách hành lang mặt ngoài 2 mm (H3.1), liên tục đến khẩu cái.

Hình 3.1

 

 

Hình 3.20. Vẽ đường viền khay cách hành lang má, lưỡi 2 mm bằng bút chì.

 

 

Đắp sáp lên những vùng lẹm.

Hình 3.2

 

Hình 3.21 và 3.22. Đắp lẹm bằng sáp.

 

Dùng 1 tấm sáp mỏng, hơ nóng trên đèn cồn hoặc nhúng vào nước ấm rồi trải đều lên bề mặt mẫu hàm.

Hình 3.3. Nhúng sáp vào nước ấm.

 

 

Hình 3.4. Phủ sáp lên mẫu hàm.

 

Dùng tay ấn xuống và miết cho sáp ôm sát mẫu hàm, cắt bỏ phần sáp dư theo đường viền bút chì đã vẽ trước đó.

Hình 3.5

 

Hình 3.23. Phủ sáp lên và ấn sáp từ mặt lưỡi trước, rồi mới đến mặt ngoài.

 

 

Hình 3.6

 

Hình 3.24. Cắt bỏ phần sáp dư.

 

Hình 3.7

 

Hình 3.25. Cắt viền sáp theo đường vẽ trước đó.

 

 

Tiếp theo đắp 1 lớp nhựa dày lên trên bề mặt lớp sáp, ấn sát xuống, dùng ngón cái miết từ trong ra ngoài để tránh tạo bọt.

Hình 3.8

 

Hình 3.26. Phủ nhựa lên, ấn và miết mặt lưỡi trước để tránh tạo bọt.

 

 

Cắt bỏ phần nhựa dư tương tự cắt sáp.

Hình 3.9

 

 

Hình 3.27. Cắt bỏ phần nhựa dư.

 

 

Hình 3.10

 

 

Làm cán khay bằng cách đắp thêm 1 ít nhựa vào thành trước của khay, vuốt lên khoảng 45 độ, độ dài vừa đủ để thao tác với ngón cái.

Hình 3.11. và 3.12.

 

 

Hình 3.28. Làm cán khay cho hàm dưới hơi dài hơn hàm trên.

 

 

 

Hình 3.13. Chờ nhựa trùng hợp trong khoảng 3 phút.

 

 

Hình 3.14. Kiểm tra độ dài cán khay bằng ngón cái.

 

 

Hình 3.15. Sử dụng tay khoan hoặc máy mài để mài chỉnh đường viền khay. Chú ý cẩn thận vì dễ làm gãy khay lúc này.

 

 

Làm khay cá nhân hàm dưới tương tự như hàm trên.

Hình 3.20. Vẽ đường viền khay cách hành lang má, lưỡi 2 mm bằng bút chì.

 

 

Hình 3.21 và 3.22. Đắp lẹm bằng sáp.

 

 

Hình 3.23. Phủ sáp lên và ấn sáp từ mặt lưỡi trước, rồi mới đến mặt ngoài.

 

 

Hình 3.24. Cắt bỏ phần sáp dư.

 

 

Hình 3.25. Cắt viền sáp theo đường vẽ trước đó.

 

 

Hình 3.26. Phủ nhựa lên, ấn và miết mặt lưỡi trước để tránh tạo bọt.

 

 

Hình 3.27. Cắt bỏ phần nhựa dư.

 

 

Hình 3.28. Làm cán khay cho khay hàm dưới hơi dài hơn hàm trên.

 

Xem tiếp phần 2 tại đây.

 

Nguồn: Treating the complete denture patient – Carl F.Driscoll, William Glen Golden.