June 14, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Kỹ thuật nhổ răng tiểu phẫu – P4

Xem lại các phần trước tại đây.

1.7. Nhổ răng hàm dưới mọc kẹt

1.7.1. Răng cối nhỏ hàm dưới mọc kẹt

Khi răng cối nhỏ bị kẹt sâu trong xương (hình 7.93), quy trình nhổ răng như sau:

 

Hình 7.93. R5 hàm dưới bị kẹt trong xương hoàn toàn.

 

Đầu tiên, rạch tạo vạt hình thang (hình 7.94).

 

Hình 7.94. Rạch tạo vạt hình thang. Lưu ý đường rạch giảm căng theo chiều dọc phải tránh khu vực lỗ cằm (chấm tròn màu vàng).

 

Lật vạt niêm mạc – màng xương, do vị trí của răng gần lỗ cằm nên phải thực hiện rất cẩn thận, cho đến khi lỗ cằm và bó mạch thần kinh cằm có thể nhìn thấy (hình 7.95).

 

Hình 7.95. Lật vạt. Chú ý thần kinh cằm (mũi tên), được bộc lộ để tránh chấn thương.

 

Khi quá trình này hoàn tất, xương bao phủ thân răng và một phần chân răng sẽ được loại bỏ (hình 7.96).

 

Hình 7.96. Loại bỏ xương phía má để lộ phần thân răng ngầm.

 

Sau đó, đặt nạy ở phía gần hoặc phía xa, và sử dụng các chuyển động xen kẽ để nạy răng về phía má (hình 7.97-7.99).

 

Hình 7.97. Nạy răng.

 

Hình 7.98. Vùng phẫu thuật sau khi nhổ răng xong.

 

Hình 7.99. Sau khi khâu đóng.

 

1.8. Nhổ răng hàm trên mọc kẹt

1.8.1. Răng khôn mọc kẹt

Việc nhổ răng khôn hàm trên mọc kẹt là một thủ thuật khó khăn do tầm nhìn hạn chế và khả năng tiếp cận khu vực này bị giới hạn. Ngoài ra, các yếu tố khác như khẩu độ miệng hạn chế, răng bị kẹt gần với xoang hàm trên, v.v., có thể làm cho quá trình phẫu thuật trở nên phức tạp hơn.

 

Phân loại

Theo Archer (1975), tình trạng kẹt của răng khôn hàm trên có thể được phân loại thành: nghiêng gần (mesioangular), nghiêng xa (distoangular), thẳng đứng (vertical), nằm ngang (horizontal), nghiêng má (buccoangular), nghiêng lưỡi (linguoangular), hoặc mọc ngược (inverted) (hình 7.100).

 

Hình 7.100. Phân loại tình trạng kẹt của răng khôn hàm trên theo Archer (1975): 1, Nghiêng gần; 2, nghiêng xa; 3, thẳng; 4, nằm ngang; 5, nghiêng ngoài (má); 6, nghiêng trong (lưỡi); 7, mọc ngược.

 

Răng thường có xu hướng nghiêng gần hoặc nghiêng xa, với mặt nhai hướng về phía má. Răng khôn hàm trên bị kẹt cũng có thể được phân loại (Archer 1975) dựa trên độ sâu của đoạn kẹt so với R7, thành ba loại:

 

– Loại A: Mặt nhai của răng bị kẹt ở cùng mức độ với mặt nhai của R7 liền kề (hình 7.101 a).

– Loại B: Mặt nhai của răng bị kẹt nằm ở giữa thân răng của R7 (hình 7.101 b).

– Loại C: Mặt nhai của  răng bị kẹt nằm dưới đường cổ răng của R7 hoặc sâu hơn, thậm chí ngang hoặc trên chân răng của nó (hình 7.101 c–e).

 

Hình 7.101. Phân loại răng khôn hàm trên mọc kẹt theo Archer (1975), dựa trên độ sâu của phần kẹt so với R7 liền kề.

 

Những trường hợp thuộc loại thứ ba là rất khó, vì việc nhổ răng đòi hỏi phải loại bỏ một lượng lớn xương, khả năng tiếp cận bị hạn chế và có nguy cơ đẩy răng bị kẹt vào xoang hàm trên (hình 7.102).

 

Hình 7.102. Răng khôn hàm trên bị kẹt sâu hoàn toàn trong xương. Nhổ răng này rất khó do sự gần kề với xoang hàm trên và tầm nhìn không đủ.

 

Các loại vạt:

Các loại vạt được sử dụng bao gồm vạt tam giác và vạt bao.

 

– Vạt tam giác: Đường rạch để tạo vạt bắt đầu từ lồi củ xương hàm trên kéo dài đến mặt xa R7, tiếp tục nghiêng lên trên và ra trước (rạch dọc) đến ngách hành lang (hình 7.103).

 

Hình 7.103. Hình minh họa đường rạch hình tam giác (a) và lật vạt (b), được chỉ định trong một số trường hợp nhổ răng khôn hàm trên mọc kẹt.

 

Trong những trường hợp hiếm, khi răng bị kẹt sâu và cần một trường phẫu thuật tốt hoặc khi răng bị kẹt che phủ chân răng 7 ở phía má, đường rạch dọc có thể được thực hiện ở mặt xa R6 (hình 7.104).

 

Hình 7.104. Biến thể của đường rạch và vạt hình tam giác trong hình 7.103 (đường rạch dọc kéo dài đến mặt xa R6). Việc kéo dài đường rạch về phía gần rất cần thiết do vị trí của răng khôn so với R7.

 

– Vạt ngang (vạt bao): Đường rạch để tạo vạt này cũng bắt đầu từ lồi củ xương hàm trên, kéo dài đến mặt xa R7, tiếp tục dọc theo đường cổ răng của hai răng cuối, và kết thúc ở mặt gần R6 (hình 7.105).

 

Hình 7.105. Sơ đồ đường rạch ngang (a) và vạt bao (b), dùng để nhổ răng khôn hàm trên mọc kẹt.

 

Loại bỏ xương:

Thường thì sau khi lật vạt, một phần thân răng bị kẹt có thể nhìn thấy hoặc có một phần xương lồi che phủ lên trên thân răng. Vì xương trong trường hợp này thường mỏng và xốp nên có thể được loại bỏ từ mặt ngoài bằng dụng cụ sắc. Nếu xương má dày và đặc thì việc loại bỏ được thực hiện bằng mũi khoan phẫu thuật.

 

1.8.1.3. Nhổ răng khôn hàm trên mọc kẹt

Quy trình nhổ răng khôn hàm trên mọc kẹt (hình 7.106) được thực hiện như sau:

 

Hình 7.106. X-quang và hình ảnh lâm sàng răng khôn hàm trên mọc kẹt với hướng nghiêng xa.

 

Sau khi thực hiện đường rạch tam giác (hình 7.107), lật vạt niêm mạc-màng xương lên (hình 7.108) và xương má được loại bỏ cho đến khi toàn bộ thân răng bị kẹt và một phần chân răng lộ ra.

 

Hình 7.107. Thực hiện đường rạch hình tam giác.

 

Hình 7.108. Lật vạt và bộc lộ thân răng mọc ngầm. Việc đặt đầu rộng của cây bóc tách ở vị trí phía sau nhằm bảo vệ răng không bị vô tình đẩy lệch vào hố dưới thái dương hoặc vào mô mềm.

 

không nên nhổ răng thành từng mảnh nên cần tạo đủ không gian quanh thân răng để có thể nạy răng. Do đó, cần sử dụng một nạy thẳng hoặc nạy khuỷu ở mặt gần của răng, luôn luôn ở phía má, răng được nạy cẩn thận ra sau, ra ngoài và xuống dưới (hình 7.109, 7.110).

 

Hình 7.109. Nạy răng mọc ngầm bằng cây nạy khuỷu cong. Các thao tác nhổ răng phần lớn phụ thuộc vào mối liên quan giữa răng và xoang hàm trên.

 

Hình 7.110. Sau khi nạy.

 

Việc chăm sóc vết thương và khâu được thực hiện tương tự như các trường hợp răng bị kẹt khác (hình 7.111).

 

Hình 7.111. Sau khi khâu đóng.

 

1.8.2. Răng nanh hàm trên mọc kẹt

Răng nanh hàm trên mọc kẹt khá phổ biến, với khoảng 12%–15% dân số gặp phải tình trạng này. Chúng thường nằm ở vị trí mặt trong nhiều hơn so với mặt ngoài.

 

Mặc dù vị trí có thể thay đổi nhưng răng nanh bị kẹt có năm vị trí cơ bản (đối bên hoặc cùng bên và sâu trong xương) như sau:

 

  1. Vị trí phía mặt trong (vòm miệng)
  2. Thân răng ở mặt trong và chân răng ở mặt ngoài
  3. Thân răng ở mặt ngoài và chân răng ở mặt trong
  4. Vị trí phía mặt ngoài
  5. Vị trí lạc chỗ

 

Ở những người trẻ khoảng 20 tuổi hoặc lớn hơn một chút, răng nanh hàm trên bị kẹt có thể được sắp xếp đúng vào cung răng sau khi phẫu thuật bộc lộ và điều trị chỉnh nha. Ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn, đặc biệt sau 30 tuổi, phương pháp này không được ưu tiên vì nguy cơ thất bại cao hơn. Trong những trường hợp như vậy, nhổ phẫu thuật được ưu tiên, nếu thực sự cần thiết.

 

Kỹ thuật nhổ răng nanh bị kẹt phụ thuộc vào vị trí kẹt (mặt trong hay mặt ngoài), mối quan hệ của răng bị kẹt với các răng lân cận cũng như độ nghiêng của thân răng. Những yếu tố này cần được đánh giá trước khi lập kế hoạch phẫu thuật.

 

Vị trí của răng nanh bị kẹt được xác định bằng các kỹ thuật chụp X-quang khác nhau cùng với khám lâm sàng cẩn thận. Các phim phổ biến nhất là phim mặt nhai, phim quanh chóp và phim panorama, trong khi kỹ thuật được sử dụng để xác định chính xác vị trí phía môi hoặc phía vòm miệng của răng bị kẹt dựa trên nguyên lý dịch chuyển ống (tube shift), như mô tả trong các bài trước.

Về khám lâm sàng, sờ thấy một khối lồi ở khu vực này thường xác định vị trí của răng khá chính xác. Dựa trên dữ liệu từ khám lâm sàng và X-quang, việc nhổ răng nanh mọc kẹt có thể được thực hiện theo ba cách: tiếp cận từ phía mặt ngoài, tiếp cận từ phía mặt trong hoặc kết hợp cả hai.

 

1.8.2.1. Nhổ răng từ phía mặt ngoài

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.