Kĩ thuật điều trị tủy răng sữa
Bài này chỉ nói đến điều trị tủy răng cối sữa. Răng cửa và răng nanh sữa cũng hoàn toàn tương tự. Điểm khác biệt chủ yếu là răng cửa và răng nanh sữa thì được sửa soạn đến trâm lớn hơn, ví dụ #50 – 60.
Nếu răng có chỉ định bọc mão SS thì đầu tiên nên hạ thấp mặt nhai, thứ hai là cắt mặt bên, thứ ba là loại bỏ mô răng sâu và cuối cùng là mở tủy để vào buồng tủy.
Tác giả khuyên sử dụng mũi 330 tay khoan nhanh để mở vào buồng tủy, sau đó chuyển sang mũi tròn #4 hoặc #6 tay khoan chậm để loại bỏ các gờ khấc.
Đối với R4 sữa thì sử dụng mũi #4, R5 sữa thì sử dụng mũi #6 (H7.7).

R4 sữa hàm dưới thường có 2 ống tủy, đôi khi có thêm 1 ống tủy thứ 3 ở phía gần.
R5 sữa hàm dưới thường có 3 ống tủy (2 gần, 1 xa), đôi khi có 4 ống.
R4 sữa hàm trên thường có 2 ống tủy, nhưng có thể có 1 ống tủy thứ 3 ở phía gần.
R5 sữa hàm trên thường có 3 ống tủy (2 ngoài, 1 trong).
Định vị miệng ống tủy bằng trâm nhỏ #20 hoặc nhỏ hơn (H7.8).

Bơm rửa ống tủy bằng natri hypochlorite 5% hoặc 2.5% (H7.9).

Nhiều tác giả khuyên sử dụng máy định vị chóp nhưng chưa có nghiên cứu nào chứng minh giới hạn chiều dài làm việc ở răng sữa.
Tác giả khuyên nên đưa trâm vào cho đến khi cảm giác được lực cản ở chóp.
Nếu trâm #20 không cảm giác được lực cản thì lên #25 rồi #30. Nếu sử dụng trâm #30 mà vẫn không cảm giác được kháng lực (trừ răng cửa, răng nanh sữa) thì nhiều khả năng là răng đã bị tiêu chân mà không phát hiện được trên phim.
Sửa soạn ống tủy đến #30 – 35 nếu trâm ban đầu là trâm #20. Nếu trâm ban đầu <#20 thì sửa soạn ống tủy đến #25 – 30.
Bơm rửa nhiều lần với natri hypochlorite. Lau khô ống tủy bằng côn giấy tương ứng với trâm cuối cùng. Côn giấy đôi khi lấy ra có thể thấy máu ở đầu chóp (H7.10).

Răng sữa đôi khi chảy máu quá nhiều ngay cả khi đã được sửa soạn tốt, những trường hợp như vậy nên đặt một viên gòn tẩm formocresol vào buồng tủy rồi trám tạm lại. Hẹn lại sau 1 – 2 tuần.
Nếu khi mở tủy mà trẻ than đau thì cũng có thể bịt lại bằng một viên gòn tẩm formocresol, trám tạm lại bằng IRM hoặc GIC. Hẹn lại sau 1 – 2 tuần.
Sau khi sửa soạn và lau khô ống tủy, sử dụng thuốc trám bít đưa vào ống tủy bằng cây nhồi hoặc lentulo (H7.11).

Trám bít tốt nhất là nên dùng Vitapex vì nó dễ tiêu nếu đi quá chóp và không làm ảnh hưởng đến hướng mọc của răng vĩnh viễn thay thế. Bơm Vitapex vào từng ống tủy và ép xuống bằng cây nhồi. Ép một viên gòn ẩm vào buồng tủy để đẩy Vitapex vào ống tủy (H7.12).

Sau khi trám bít thì trám tạm bằng GI (Ketac hoặc Fuji IX), sau đó thực hiện mão.
Lưu ý nhớ chụp phim kiểm tra sau điều trị (H7.13).

Sưng nướu hoặc lỗ dò sẽ tự khỏi trong vòng 1 – 2 tuần mà không cần sử dụng kháng sinh hoặc điều trị gì thêm.
Điều trị tủy thất bại khi trên lâm sàng có đau và/hoặc sưng. Trên phim thấy tiêu chân bất thường hoặc thấu quang phát triển rộng ra, không tái lập xương sau 6 – 12 tháng.
Xem lại phần 1 tại đây.
Nguồn: Handbook of Clinical Technique in Pediatric Dentistry – Jane A. Soxman.







Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P1
Sách Nội nha – tập 2
Sách nội nha – tập 1