Xem lại phần 1 tại đây.
Phần I. Các vận động và định nghĩa các vận động của hàm dưới
Chương 2. Vai trò của giá khớp trong việc tái tạo vận động hàm dưới
Giá khớp (articulator) là những dụng cụ cơ học mô phỏng khớp thái dương hàm (TMJ), hàm dưới và hàm trên, trên đó các mẫu hàm có thể được gắn và quan sát trong cả tương quan tĩnh và động. Chúng hữu ích trong chẩn đoán khi phân tích khớp cắn bệnh nhân từ ngoài miệng. Giá khớp với khả năng sao chép các vận động và vị trí của hàm dưới cũng hỗ trợ trong việc chế tạo phục hình tại labo.
Phân loại
Giá khớp được chia thành ba loại chính:
- Loại giá trị trung bình (Average value)
- Loại bán điều chỉnh (Semi-adjustable)
- Loại toàn điều chỉnh (Fully-adjustable)
Sự phân loại này dựa trên khả năng tương đối của chúng trong việc sao chép vận động của hàm dưới. Việc lựa chọn loại giá khớp phụ thuộc vào chỉ định lâm sàng, kiến thức và kỹ năng của bác sĩ sử dụng, đồng thời phải dựa trên sự hiểu biết rõ ràng về ưu điểm và hạn chế của từng loại.
Ngoài ra, còn có những loại bản lề đơn giản (simple hinges) và các bộ định vị mẫu hàm khác (cast relators) có thể được sử dụng để định vị mẫu hàm tại một vị trí nhất định, nhưng không có khả năng mô phỏng vận động của hàm dưới.
Bộ định vị mẫu hàm (cast relator)

Bộ bản lề đơn giản không thể mô phỏng bất kỳ vận động hay vị trí nào của hàm dưới ngoài vị trí khớp cắn trung tâm (ICP), do đó không phù hợp cho chẩn đoán khớp cắn. Chúng chỉ được dùng để quan sát tương quan tĩnh khi chế tác mão răng đơn lẻ theo vị trí lồng múi hiện có.
Phục hình chế tạo trên loại dụng cụ này không được yêu cầu tiếp xúc trong miệng ở bất kỳ vị trí nào khác ngoài ICP, và bệnh nhân cần có hướng dẫn răng trước (anterior guidance) đầy đủ để đảm bảo sự nhả khớp nhanh chóng.
Những phục hình thực hiện trên loại dụng cụ này có thể cần phải được điều chỉnh trong miệng để loại bỏ các cản trở sang bên và cản trở đưa hàm ra trước, đặc biệt khi bệnh nhân không có hướng dẫn răng trước dốc.

Giá khớp loại giá trị trung bình (Average-value articulators)

Các dụng cụ này có khả năng thực hiện chuyển động sang bên và đưa ra trước, có kích thước giải phẫu (tức là được chế tạo theo tỷ lệ gần giống với kích thước thật của khớp thái dương hàm và hộp sọ người). Tuy nhiên, chúng không chấp nhận bản ghi cung mặt; do đó tương quan giữa trục lồi cầu và mẫu hàm là tùy ý, và chúng không thể tái tạo chính xác các vận động. Góc mà “lồi cầu” di chuyển được cố định theo các giá trị trung bình. Những dụng cụ này không có ứng dụng lâm sàng thực sự.
Giá khớp bán điều chỉnh (semi-adjustable articulator)
Giá khớp bán điều chỉnh là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong cả chẩn đoán và điều trị, được thiết kế theo kích thước giải phẫu, khoảng cách giữa các lồi cầu gần giống với bệnh nhân trung bình, nhưng thường không có khả năng điều chỉnh nhiều.
Chúng chấp nhận bản ghi cung mặt, cho phép chuyển tương quan giữa trục bản lề và răng từ bệnh nhân. Hai đặc điểm này, cùng với khả năng điều chỉnh góc chuyển động lồi cầu ở mặt phẳng dọc và ngang, giúp những dụng cụ này mô phỏng tương đối chính xác vận động hàm dưới sang bên và ra trước.


Điều chỉnh lồi cầu trong giá khớp bán điều chỉnh
Nên thực hiện những điều chỉnh này trước khi gắn mẫu hàm vào giá khớp. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi độ nghiêng của thành hõm khớp đều có thể làm thay đổi tương quan giữa lồi cầu và hõm khớp ở vị trí lui sau.


Các nhà sản xuất khuyến nghị rằng những điều chỉnh này nên được thiết lập bằng cách sử dụng các dấu cắn khi hàm đưa ra trước và sang bên. Tuy nhiên, quy trình này không chính xác vì các lý do sau:
- Thứ nhất, dấu cắn tạo ra một góc được hình thành bởi mặt phẳng ngang và một đường thẳng kéo từ vị trí lui sau (retruded position) đến điểm mà dấu cắn được thực hiện. Do đó, nếu thực hiện dấu cắn kiểm tra ở những mức độ đưa ra trước hoặc sang bên khác nhau thì sẽ tạo ra các giá trị khác nhau nếu bệnh nhân có đường vận động cong. Vì trên 90% đường đi lồi cầu là cong nên quy trình này sẽ không chính xác đối với hầu hết bệnh nhân.
- Thứ hai, trong hầu hết các loại giá khớp bán điều chỉnh, lồi cầu bên làm việc chỉ có thể xoay và thường không có khả năng tái tạo được chuyển động Bennett hay trượt bên (sideshift). Do đó, nếu bệnh nhân có bất kỳ mức độ trượt bên nào thì dấu cắn sang bên sẽ không thể khớp chính xác giữa hai mẫu hàm do hạn chế cơ học của hõm lồi cầu.
Trong đa số trường hợp, độ dốc lồi cầu và góc Bennett được thiết lập bằng các giá trị trung bình. Tuy nhiên, khi chế tác phục hình răng sau trên một giá khớp bán điều chỉnh thì việc đặt độ dốc lồi cầu phẳng hơn sẽ hợp lý, đặc biệt nếu bệnh nhân có hướng dẫn răng trước (anterior guidance) hạn chế. Điều này sẽ dẫn đến việc tạo ra các múi răng phẳng hơn, có khả năng nhả khớp trong miệng dễ dàng hơn.


Các bản ghi cần thiết để gắn mẫu hàm đúng lên giá khớp bán điều chỉnh bao gồm bản ghi cung mặt và bản ghi khớp cắn.
Chuyển cung mặt

Có hai loại cung mặt: cung mặt trục động học hoặc trục bản lề, và cung mặt trục trung bình.
Cung mặt trục động học hoặc trục bản lề

Tiếp theo là thực hiện quá trình chuyển cung mặt, sử dụng hai dấu mốc này làm điểm tham chiếu phía sau. Để chuyển tương quan này một cách chính xác, cần có điểm tham chiếu thứ ba. Điểm này đặt ở phía trước khuôn mặt, vị trí chính xác phụ thuộc vào từng loại giá khớp và hệ thống cung mặt được sử dụng.
Cung mặt trục trung bình
Xác định trục bản lề là một thủ thuật đòi hỏi nhiều kỹ năng và tốn thời gian. Do đó, đã có các hệ thống cung mặt được phát triển sử dụng các điểm tham chiếu trung bình phía sau, dựa trên những mốc giải phẫu có thể đo đạc được trong vùng gần trục liên lồi cầu. Việc sử dụng chúng cho thao tác chuyển cung mặt mà không gây mất độ chính xác có ý nghĩa lâm sàng trong các vận động được tạo ra bởi giá khớp.
Tình huống duy nhất mà sai số đáng kể có thể xảy ra là khi KTD cắn khớp bị thay đổi trên giá khớp, vì lúc này vận động mở hoặc đóng sẽ không còn diễn ra theo một cung tròn quanh trục bản lề thật sự. Điều này không có ý nghĩa khi gắn mẫu hàm chẩn đoán, nhưng lại quan trọng khi gắn mẫu hàm làm việc để chế tác phục hình.



Xem tiếp phần 3 tại đây.
Nguồn: A Colour Atlas of Occlusion and Malocclusion – A.P.Howat, N.J.Capp, N.V.J.Barrett.

Bài viết liên quan
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P5 – Đánh giá khớp cắn trong phục hình
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P4 – Đánh giá khớp cắn trong phục hình
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P3 – Giá khớp