June 10, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Kỹ thuật điều trị tủy răng sữa – P1

Chẩn đoán lâm sàng

Xác định đúng 1 trong 4 chẩn đoán lâm sàng sau đây: tủy bình thường (răng sâu lớn nhưng không có triệu chứng tủy), viêm tủy có hồi phục, viêm tủy không hồi phục (có triệu chứng và không có triệu chứng) hay hoại tử tủy.

 

Đánh giá đau

Răng không có triệu chứng hoại tử tủy nhưng đau tự phát trong những khoảng thời gian ngắn, có giảm đau khi chải răng hoặc dùng thuốc giảm đau hay khi loại bỏ tác nhân kích thích thì thường là viêm tủy có hồi phục.

Đối với răng sữa, thử tủy bằng điện và nhiệt thường không đáng tin cậy.

Trước khi lên kế hoạch điều trị tủy răng sữa, cần cân nhắc những yếu tố như: tiền sử bệnh, phương pháp trám phục hồi răng, răng còn tồn tại bao lâu thì thay, có cần giữ khoảng hay không (đặc biệt với R5 sữa trước khi R6 vĩnh viễn mọc).

 

Trám tạm chờ chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh lí răng sữa không phải lúc nào cũng chính xác.

Một răng cối sữa sâu lớn sát tủy, có đau khi ăn nhai nhưng không có sưng nướu thì dễ chẩn đoán nhầm (H7.1).

 

Hình 7.1. (a) Chẩn đoán không đúng ở R5 sữa sâu lớn, đau những khoảng ngắn. Răng được lấy tủy buồng vì chẩn đoán là răng tủy sống. (b) 11 tháng sau khi điều trị lấy tủy buồng bằng formocresol cho thấy điều trị thất bại vì chẩn đoán sai.

 

Phương pháp duy nhất chẩn đoán chính xác mức độ viêm tủy là mô học.

Các triệu chứng lâm sàng của trẻ thường không liên quan gì đến tình trạng mô học của răng, càng gây khó khăn cho việc chẩn đoán.

Coll (2013) đã thực hiện một nghiên cứu nhận thấy trám tạm răng bằng glass ionomer trước khi điều trị trong vòng 1 – 3 tháng sẽ giúp chẩn đoán chính xác bệnh lí tủy đến 94%. Những dấu hiệu sau trám tạm như đau, thấu quang quanh chóp, lỗ dò giúp chẩn đoán phân biệt chính xác (H7.2).

 

Hình 7.2. (a) Phim quanh chóp trước điều trị R4 sữa hàm dưới không có sưng nướu, tiền sử đau không rõ ràng gây khó khăn cho chẩn đoán. Răng được trám tạm bằng glass ionomer. (b) Một tuần sau, trẻ bị sưng nướu nhưng không đau, dẫn đến chẩn đoán cuối cùng là viêm tủy không hồi phục.

 

Hình 7.3. (a) R4 sữa hàm dưới có lỗ sâu sát tủy ở một trẻ 4.5 tuổi. Không đặt thuốc trám tạm mà thực hiện lấy tủy buồng với formocresol vì cầm máu dễ sau khi mở tủy. (b) Phim chụp 24 tháng sau cho thấy điều trị thất bại. Răng lúc đó lẽ ra phải được chẩn đoán là viêm tủy không hồi phục, nghĩa là khi đó chống chỉ định lấy tủy buồng.

 

Đánh giá tiền sử bệnh

Hỏi về những lần sưng đau hay sốt trước đây, hỏi bố mẹ trẻ những câu như: trẻ có tỉnh dậy than đau vào lúc nửa đêm chẳng hạn như 2 giờ sáng không. Răng sữa sâu lớn có thể gây đau khi ngủ nhưng vẫn chẩn đoán là viêm tủy có hồi phục. Lúc đó trẻ có thể ăn vặt về đêm và đi ngủ mà không đánh răng. Mảnh vụn thức ăn có thể lọt vào lỗ sâu gây đau kéo dài, nhưng tủy răng thực chất vẫn có khả năng hồi phục.

Do đó theo nhiều tác giả, hỏi tiền sử bệnh là yếu tố quan trọng nhất để chẩn đoán.

 

Gõ, sờ, thử tủy

Lưu ý bố mẹ thường cho là trẻ đau răng hàm dưới khi trẻ than đau ở nhà nếu họ nhìn thấy răng hàm dưới của trẻ có lỗ sâu lớn. Đau răng có thể có nguyên nhân từ răng trên, là vị trí mà bố mẹ ít khi nhìn được.

Gõ có thể gây áp lực lên dây chằng nha chu, cũng giúp hỗ trợ chẩn đoán. Tuy nhiên phản ứng của trẻ thường không đáng tin cậy do lo sợ và chưa nhận thức được.

Các tác giả khuyên nên dùng ngón tay ấn vào một răng lành trước, sau đó ấn vào răng nghi ngờ và chú ý quan sát bất cứ biểu hiện khó chịu hay né tránh nào từ trẻ. Không nên sử dụng cán dụng cụ để gõ vào răng vì làm trẻ hiểu sai gõ như vậy sẽ đau, dẫn đến phản ứng không chính xác.

Đánh giá độ lung lay răng cửa sữa đôi khi là dấu hiệu duy nhất của răng nhiễm trùng, đặc biệt là khi không thể chụp phim được. Răng cửa sữa hàm trên ở trẻ <4 tuổi sâu lớn và có lung lay thì rất có thể bị nhiễm trùng. Răng cối sữa lung lay ở trẻ <6 tuổi cũng thường là dấu hiệu nhiễm trùng. Tuy vậy vẫn có những răng sữa bị nhiễm trùng nhưng không lung lay.

 

Đổi màu răng

Răng cửa sữa đổi màu sau chấn thương trong nhiều trường hợp không hề bị hoại tử tủy. Để chẩn đoán đúng bệnh lí tủy răng cửa sữa bị chấn thương thì theo dõi là bắt buộc. Nếu phát hiện dấu hiệu nhiễm trùng tủy thì mới điều trị.

Lưu ý là lấy tủy răng cửa sữa đổi màu sẽ không làm răng trắng trở lại được.

Răng sữa rơi ra không nên cắm lại vào ổ răng.

 

Chảy máu tủy

Đôi khi khó xác định mối liên hệ giữa màu máu chảy ra từ tủy răng với mức độ viêm tủy. Hiệp hội răng trẻ em Mĩ cho rằng, chảy máu buồng tủy không thể cầm được với một viên gòn ẩm sau vài phút thì thường chỉ định lấy tủy chân hoặc nhổ răng, không chỉ định lấy tủy buồng.

 

Đánh giá trên phim X quang

Lugie (2012) nghiên cứu và kết luận 77% răng cối sữa có ống tủy phụ ở vùng chẽ, nên trên phim X quang thường thấy thấu quang xuất hiện ở vùng chẽ trước.

Ở răng vĩnh viễn, thấu quang thường xuất hiện ở vùng chóp răng vì đó là nơi có nhiều ống tủy phụ nhất. Kích thước khối thấu quang vùng chẽ ở răng sữa to hay nhỏ không phải là chống chỉ định của lấy tủy (H7.4).

 

Hình 7.4. (a) Phim chụp ngay sau khi điều trị tủy R5 sữa hàm dưới cho thấy vùng thấu quang lớn. Kích thước của vùng thấu quang không phải là chống chỉ định của lấy tủy. (b) 16 tháng sau thấy kết quả lành thương tốt.

 

Tiêu chân răng

Theo nghiên cứu của Coll và Sadrian (1996), một trong những yếu tố quan trọng cho thấy điều trị tủy răng sữa thành công là có tiêu chân răng trên phim sau điều trị. Có một ngoại lệ đối với R5 sữa khi có nhu cầu lấy tủy giữ lại để chờ R6 vĩnh viễn mọc lên mà có tiêu chân răng thì nhiều tác giả khuyên nên trám bít bằng iodoform.

 

Khả năng tiêu ngót của các loại thuốc trám bít ống tủy răng sữa

Theo Hiệp hội răng trẻ em Mĩ, trám bít ống tủy răng sữa phải sử dụng vật liệu tiêu được, như ZOE (kẽm oxit và Eugenol), iodoform (KRI) hoặc hỗn hợp giữa iodoform và canxi hydroxit (Vitapex hoặc Endoflas).

ZOE vẫn là loại vật liệu trám bít được sử dụng nhiều nhất. Eugenol có tính kháng khuẩn và làm dịu đau, nhưng nhược điểm là kích thích mô quanh chóp, tiêu chậm và không hoàn toàn, làm thay đổi hướng mọc của răng vĩnh viễn thay thế (Coll, 1996) (H7.5).

 

Hình 7.5. (a) R5 sữa hàm dưới ở hình 7.4 bắt đầu được thay vào khoảng 54 tháng sau khi điều trị tủy thành công với ZOE. Chú ý một vài mảnh vụn ZOE vương vãi quanh răng cối nhỏ vĩnh viễn. (b) Một ví dụ trường hợp ZOE tiêu không hoàn toàn sau 4 năm. Chú ý mảnh vụn ZOE không tiêu hẳn giữa R4 và R5 hàm dưới.

 

KRI là thuốc trám bít có chứa 80% hợp chất iodoform, 2% parachlorophenol, 5% camphor và 1% menthol, không gây kích thích mô quanh chóp, dù có quá chóp răng thì cũng tự tiêu rất nhanh.

Vitapex cũng là một hợp chất của iodoform, dễ tiêu khi ra ngoài chóp hoặc vùng chẽ (H7.6).

 

Hình 7.6. (a) Vitapex tràn ra chóp chân xa R4 sữa. (b) 6 tháng sau thấy phần Vitapex quá chóp đã tiêu, răng không có triệu chứng cũng như không có dấu hiệu tổn thương mô mềm từ sau ngày điều trị.

 

Vitapex có chứa 30% canxi hydroxit, 40.4% iodoform và 22.4% silicone, có dạng kem nhão màu vàng và không bao giờ đông cứng. Vitapex được sản xuất dưới dạng ống bơm và đầu bơm bằng nhựa.

Endoflas là thuốc trám bít có chứa 40.6% iodoform , 56.5% oxit kẽm, 1.63% bari sulfate và 1.07% canxi hydroxit.

Trám bít ống tủy bằng ZOE có thể gây ra 20% trường hợp răng cửa và răng cối nhỏ vĩnh viễn mọc lên trong tình trạng cắn ngược. Sadrian và Coll (1993) nghiên cứu thấy 27% trường hợp còn thuốc trám bít ZOE tồn tại tới trung bình là 40.2 tháng sau khi răng sữa đó mất đi.

 

Xem tiếp phần 2 tại đây.

 

Nguồn: Handbook of Clinical Technique in Pediatric Dentistry – Jane A. Soxman.