Xem lại phần 1 tại đây và phần 2 tại đây.
PHẦN 1. CÁC VẤN ĐỀ CHỈNH NHA
CHƯƠNG 2. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Các vị trí và loại hình tăng trưởng trong phức hợp sọ mặt
Mô mềm vùng mặt
Sự tăng trưởng mô mềm vùng mặt không hoàn toàn song song với sự tăng trưởng của mô cứng bên dưới.
Sự tăng trưởng của môi
Trước tuổi dậy thì, môi tăng trưởng chậm hơn sự tăng trưởng của xương hàm, sau đó trải qua một đợt tăng trưởng mạnh để bắt kịp. Do chiều cao môi tương đối ngắn trong những năm của giai đoạn răng hỗn hợp nên độ hở môi khi nghỉ (thường được gọi là môi không kín) cao nhất vào thời thơ ấu và giảm dần trong thời kỳ vị thành niên (Hình 2.33).

Độ dày môi đạt mức tối đa trong thời kỳ vị thành niên, sau đó giảm dần (Hình 2.34)—đến mức ở độ tuổi 20 và 30, một số người xem sự giảm độ dày môi là vấn đề và tìm đến điều trị để làm tăng độ dày môi.

Sự tăng trưởng của mũi
Sự tăng trưởng của xương mũi hoàn tất vào khoảng 10 tuổi. Sau đó, sự tăng trưởng mũi chỉ còn diễn ra ở phần sụn mũi và mô mềm, cả hai đều trải qua một đợt tăng trưởng mạnh đáng kể trong giai đoạn dậy thì.
Kết quả là mũi trở nên nhô rõ hơn nhiều trong giai đoạn dậy thì, đặc biệt ở nam giới (Hình 2.35).

Môi được giới hạn bởi mũi ở phía trên và cằm ở phía dưới. Cả mũi và cằm đều nhô rõ hơn trong quá trình tăng trưởng ở tuổi dậy thì và sau dậy thì, còn môi thì không. Vì vậy, độ nhô tương đối của môi giảm đi. Đây có thể là một vấn đề quan trọng khi xác định mức độ nâng đỡ môi cần được cung cấp bởi các răng vào thời điểm điều trị chỉnh nha thường kết thúc ở giai đoạn cuối tuổi vị thành niên.
Những thay đổi của mô mềm vùng mặt theo tuổi, cũng cần được xem xét trong việc lập kế hoạch điều trị chỉnh nha.
Phát triển nhận thức, xã hội, cảm xúc và hành vi trong nha khoa
Điều trị chỉnh nha thường bắt đầu trong khoảng từ 7 đến 11 tuổi, tương ứng với giai đoạn gọi là “giai đoạn thao tác cụ thể” trong sự phát triển nhận thức.
Ở những độ tuổi này, trẻ đang phát triển khả năng suy luận và sử dụng quá trình logic tốt hơn, đặc biệt đối với những đồ vật có thể được cầm nắm và thao tác. Đối với nha sĩ, việc trình bày các ý tưởng dưới dạng những khái niệm trừu tượng, thay vì minh họa chúng bằng những vật thể hữu hình, có thể tạo ra rào cản lớn đối với giao tiếp.
Những hướng dẫn chăm sóc — nếu trẻ ở độ tuổi này được kỳ vọng sẽ chủ động tham gia vào việc chăm sóc của mình — phải được minh họa bằng ví dụ cụ thể (Hình 2.45).

Ví dụ, đối với một bác sĩ chỉnh nha, sẽ quá trừu tượng nếu chỉ nói: “Đây là hàm duy trì của cháu. Cháu cần đeo nó mỗi tối để giữ cho răng thẳng.”
Những hướng dẫn cụ thể và phù hợp hơn có thể là: “Đây là hàm duy trì của cháu. Cháu đeo nó vào miệng như thế này và lấy ra như thế kia, bây giờ cháu thử làm đi. Mỗi tối, ngay sau bữa tối, cháu đeo vào và đeo cho đến sáng hôm sau. Cháu chải nó như thế này bằng bàn chải đánh răng và nước rửa chén để giữ cho nó sạch. Không được dùng nước nóng vì sẽ làm chảy hàm!”
Việc thực hiện và hướng dẫn trực tiếp thao tác, và/hoặc cung cấp hướng dẫn bằng hình ảnh để bệnh nhân mang về nhà, cũng có thể giúp tăng cường sự tuân thủ.
Đối với hầu hết trẻ em, khả năng tiếp nhận các khái niệm trừu tượng và suy luận trừu tượng phát triển vào khoảng 11 tuổi, thời điểm giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên. Khi làm việc với trẻ ở giai đoạn này, nha sĩ có thể cung cấp thông tin theo cách gần giống với người lớn. Và trên thực tế, nếu “nói chuyện với trẻ như trẻ con” có thể tác động tiêu cực đến mối quan hệ điều trị.
Mong muốn điều trị của những bệnh nhân này ảnh hưởng đến cả sự hợp tác và kết quả điều trị; trên thực tế, điều trị chỉnh nha ở hầu hết thanh thiếu niên chỉ nên được tiến hành khi chính bệnh nhân mong muốn—chứ không chỉ để làm hài lòng cha mẹ.
Mong muốn điều trị chỉnh nha của chính thanh thiếu niên thường được thúc đẩy nhất bởi những lo ngại về thẩm mỹ và tình trạng căng thẳng cảm xúc đi kèm, còn suy giảm chức năng nhai ít khi được quan tâm.
Đối với những bệnh nhân nhỏ tuổi hơn, các dây buộc, thun và hàm duy trì có màu sắc sặc sỡ lại được ưa chuộng. Hiện nay, cả trẻ em và thanh thiếu niên đều xếp khí cụ kim loại có dây buộc thun màu sắc vào nhóm được chấp nhận nhất, ngang với các khí cụ “thẩm mỹ” thường được người lớn ưa chuộng. Điều này thuận lợi cho bác sĩ vì có thể sử dụng những khí cụ bền hơn và tiết kiệm chi phí hơn cho trẻ em và hầu hết thanh thiếu niên mà vẫn phù hợp.
CHƯƠNG 3. CÁC GIAI ĐOẠN SỚM CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Thay đổi theo thời đại trong tăng trưởng và phát triển
Trong thế kỷ 20 vừa qua, có sự gia tăng tổng quát về kích thước cơ thể của hầu hết mọi người. Đồng thời, độ tuổi trưởng thành sinh dục cũng giảm xuống, do đó trẻ em trong thời gian gần đây tăng trưởng nhanh hơn và trưởng thành sớm hơn so với trước đây.
Xu hướng này chắc chắn có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng tốt hơn, cho phép tăng cân nhanh hơn, và bản thân việc tăng cân nhanh hơn có thể kích hoạt quá trình trưởng thành sớm hơn.
Giả thuyết về việc tiếp xúc với các hóa chất trong môi trường có tác dụng estrogen (chẳng hạn một số loại thuốc trừ sâu hoặc chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi) cũng có thể đóng một vai trò.
Tỷ lệ hộp sọ đã thay đổi trong thế kỷ vừa qua, với đầu và mặt trở nên cao hơn và hẹp hơn. Một số nhà nhân chủng học cho rằng những thay đổi này có liên quan đến xu hướng sử dụng thức ăn mềm hơn và giảm tải chức năng lên bộ xương mặt, nhưng chưa có bằng chứng.
Sự mọc răng sữa
Khi mới sinh, cả mỏm huyệt răng hàm trên và mỏm huyệt răng hàm dưới đều chưa phát triển đầy đủ. Đôi khi trẻ có “răng sơ sinh”. Răng sơ sinh có thể là một răng thừa hình thành do sự bất thường trong quá trình phát triển lá răng, nhưng thường là một răng cửa giữa mọc rất sớm, về mọi phương diện khác vẫn là răng bình thường.
Do có khả năng đây hoàn toàn là răng bình thường do đó không nên tùy tiện nhổ răng sơ sinh. Tuy nhiên, nếu răng có độ lung lay đáng kể thì có thể cần phải nhổ. Quan trọng là phải tư vấn cho gia đình rằng việc nhổ răng có thể dẫn đến tình trạng thiếu một răng cửa trong tương lai.
Những răng sữa đầu tiên bình thường chỉ bắt đầu mọc vào khoảng 6 tháng tuổi
Thời điểm mọc răng có sự biến thiên tương đối lớn; sớm hoặc muộn hơn trong vòng 6 tháng vẫn trong giới hạn bình thường.
Trẻ sinh non thường chậm mọc răng ở một mức độ nhất định nhưng trình tự mọc răng thường vẫn giữ nguyên. Có thể dự kiến các răng cửa giữa hàm dưới sẽ mọc đầu tiên, ngay sau đó là các răng cửa còn lại. Sau khoảng 3 đến 4 tháng, các răng 4 sữa hàm dưới và hàm trên mọc, tiếp theo 3 hoặc 4 tháng nữa là các răng nanh hàm trên và hàm dưới, gần như lấp đầy khoảng trống giữa răng cửa bên và răng 4 sữa.
Bộ răng sữa thường hoàn tất khi trẻ được 24 đến 30 tháng tuổi, khi các răng 5 sữa hàm dưới rồi đến hàm trên mọc.
Khe thưa giữa các răng là bình thường ở vùng phía trước của bộ răng sữa nhưng rõ nhất ở hai vị trí, được gọi là khoảng linh trưởng. Ở cung hàm trên, khoảng linh trưởng nằm giữa răng cửa bên và răng nanh, còn ở cung hàm dưới, khoảng linh trưởng nằm giữa răng nanh và răng 4 sữa (Hình 3.10).

Khoảng linh trưởng thường hiện diện ngay từ khi răng mọc. Tình trạng có khe thưa tương đối đồng đều giữa các răng sữa có lợi cho sự sắp xếp đúng vị trí của các răng cửa vĩnh viễn sau này.
Cuối thời thơ ấu: Giai đoạn bộ răng hỗn hợp
Đánh giá tuổi xương và các tuổi phát triển khác
Trong lập kế hoạch điều trị chỉnh nha, việc biết còn lại bao nhiêu tiềm năng phát triển xương có thể rất quan trọng, vì vậy thường cần đánh giá tuổi xương. Đặc biệt khi cân nhắc thời điểm điều trị bằng khí cụ chức năng cho bệnh nhân hạng II, bởi vì phương pháp này đạt hiệu quả cao nhất khi được thực hiện trong giai đoạn tăng trưởng mạnh ở tuổi vị thành niên.
Trong nhiều năm qua, quá trình cốt hóa xương bàn tay và cổ tay là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển của hệ xương (Hình 3.11).

Người ta chứng minh rằng các giai đoạn phát triển của bàn tay–cổ tay có tương quan khá tốt với giai đoạn tăng trưởng mạnh ở tuổi vị thành niên của xương hàm dưới. Đáng tiếc là bác sĩ tổng quát và hầu hết bác sĩ chỉnh nha không thực hiện loại đánh giá X-quang này thường xuyên để có thể đạt độ tin cậy. Ngoài ra, phương pháp này còn tạo thêm một liều bức xạ cho một phim không trực tiếp đánh giá chính xác sự tăng trưởng của xương hàm dưới.
Một phương pháp đánh giá tuổi xương tương tự là dựa trên đốt sống cổ, được quan sát trên phim X-quang sọ nghiêng.

Đối với bệnh nhân có vấn đề về xương nghiêm trọng, đặc biệt là tăng trưởng quá mức xương hàm dưới, cách tốt nhất để xác định sự chấm dứt tăng trưởng là thực hiện các phim X-quang sọ nghiêng nối tiếp.
Vì phim X-quang sọ nghiêng được chụp thường quy cho bệnh nhân chỉnh nha nên phương pháp này có ưu điểm hơn so với phim X-quang bàn tay-cổ tay ở chỗ không cần thêm phơi nhiễm bức xạ.
Sự mọc răng vĩnh viễn
Sự mọc răng trước khi răng xuất hiện trong miệng
Có hai quá trình cần thiết cho sự mọc răng trước khi răng xuất hiện trong miệng. Thứ nhất, phải có sự tiêu xương và tiêu chân răng sữa nằm phía trên thân răng của răng đang mọc; thứ hai, sau đó phải có một cơ chế tạo lực đẩy để di chuyển răng theo hướng mà đường đi đã được giải phóng.
Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.

Bài viết liên quan
Kiến thức chỉnh nha căn bản – P2
Kiến thức chỉnh nha căn bản – P1
Thẩm mỹ và cơ học sinh học trong chỉnh nha – P14 – Cơ sinh học chỉnh nha