
Tiêu chuẩn 1: Sự lành mạnh của nướu
Phải gồm những yếu tố sau (H2.2a):
– Nướu rời (FG) từ viền nướu cho đến đáy rãnh nướu có màu hồng san hô.
– Nướu dính (AG) mở rộng từ rãnh nướu rời cho đến tiếp nối nướu – niêm mạc, màu hồng san hô và cấu trúc săn chắc (bám chặt vào xương ổ răng), có dạng “vỏ cam” ở khoảng 30% – 40% ở người trưởng thành.
– Niêm mạc xương ổ (AM) nằm về phía chóp từ phía đường tiếp nối nướu – niêm mạc, có màu đỏ sẫm hơn và di động.

Sức khỏe nướu được duy trì nhờ vệ sinh răng miệng. Khi thực hiện các thủ thuật lâm sàng phải tôn trọng khoảng sinh học. Đường viền phía nướu của các loại miếng trám phục hồi hay phục hình cũng ảnh hưởng đến sức khỏe nướu.
Tiêu chuẩn 2: Sự lấp đầy khoảng tiếp cận giữa các răng.
Ở những người trẻ có nướu lành mạnh, khoảng tiếp xúc giữa các răng được lấp đầy bởi mô dạng sò, tạo thành gai nướu (H2.2b).

Vệ sinh răng miệng kém hoặc bệnh lí mô nha chu có thể làm thay đổi cấu trúc gai nướu này.
Tiêu chuẩn 3: Trục răng
Hầu hết trục các răng đều hơi nghiêng xa, độ nghiêng này hơi tăng dần từ răng cửa giữa cho đến răng nanh (H2.2c).

Tiêu chuẩn 4. Đỉnh cao nhất của đường viền nướu.
Thường nằm ở chính giữa trục răng hoặc hơi lệch về phía xa (H2.2d).

Sửa soạn cùi răng cho mão hoặc veneer phải tôn trọng hình dạng viền nướu.
Tiêu chuẩn 5: Mức viền nướu
Đường viền nướu răng cửa bên hơi thấp hơn (nằm về phía thân răng hơn) răng cửa giữa và răng nanh (H2.2e), được xếp vào chiều cao nướu loại 1.

Ở chiều cao nướu loại 2, đường viền nướu răng cửa bên nằm về phía chóp hơn so với răng cửa giữa và răng nanh. Để đảm bảo sự hài hòa thì răng cửa bên phải có rìa cắn thấp hơn (H2.2f), ngoài ra phải hơi phủ lên răng cửa giữa một chút (theo Rufenacht).

Trong những trường hợp nặng, phải phẫu thuật nha chu để tái lập lại đường viền nướu.
Tiêu chuẩn 6: Mức tiếp xúc
Vị trí các điểm tiếp xúc liên quan đến vị trí và hình thể răng. Điểm tiếp xúc răng cửa giữa thì nằm gần về phía thân răng, và càng nằm về phía chóp hơn khi đến các răng cửa bên và răng nanh (H2.2g).

Tiêu chuẩn 7: Kích thước răng
Do sự đa dạng về kích thước và sự mòn răng khiến cho việc xác định kích thước chuẩn cho răng rất khó. Nhiều nghiên cửa so sánh tỉ lệ các kích thước của răng với nhiều với tỉ lệ của các thành phần trong kiến trúc, cuối cùng đã đưa ra một công thức toán học được coi là “tỉ lệ vàng” trong xác định kích thước răng lí tưởng theo chiều gần xa (H2.3b).

Lombardi là người đầu tiên nhắc đến tỉ lệ vàng ở các răng trước. Tuy nhiên Preston đã thực hiện và chứng minh sự phi thực tế của nó, vì gây ra sự thu hẹp quá mức hàm trên và co nhỏ lại của răng cửa bên.
Những kết quả nghiên cứu của Sterrett và cộng sự có thể được áp dụng để xác định chiều cao và chiều rộng chuẩn của các răng trước (H2.3c).

Tỉ lệ chiều rộng/chiều cao được chứng minh là thông số ít thay đổi nhất giữa các răng.

Một yếu tố khác rất quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ này là độ sáng (H2.3e và tiêu chuẩn 11).

Nhiều kết quả từ Sterrett và cộng sự, cộng với nhiều kết luận khác nhau giúp ta rút ra những tiêu chuẩn sau cho răng trước hàm trên:
– Tỉ lệ chiều rộng/chiều cao của các răng là giống nhau (từ 77% đến 86%) (nghĩa là giữa các răng cửa giữa thì giống nhau, các răng cửa bên thì giống nhau và răng nanh cũng giống nhau).
– Răng cửa giữa hơi rộng hơn răng cửa bên từ 2 – 3 mm.
– Răng cửa giữa hơi rộng hơn răng nanh từ 1 – 1.5 mm.
– Răng nanh hơi rộng hơn răng cửa bên, từ 1 – 1.5 mm.
– Răng cửa giữa và răng nanh có chiều cao gần bằng nhau (sai số khoảng 0.5 mm), hơi cao hơn răng cửa bên từ 1 – 1.5 mm.

Ở những bệnh nhân làm phục hình mà các răng hàm trên bị thay đổi thì các răng hàm dưới còn nguyên vẹn có thể giúp xác định lại kích thước các răng trước hàm trên (H2.3g).

Tiêu chuẩn 8: Hình thể răng đặc trưng
Răng cửa giữa
Răng cửa giữa và răng cửa bên có giải phẫu và chức năng tương tự nhau, dùng để cắn và xé thức ăn (H2.4).
– Đường viền gần có thể thẳng hoặc hơi lồi nhẹ.
– Đường viền xa cong lõm hơn so với phía gần. Góc cắn phía xa hơi tròn.
– Đường viền rìa cắn có thể thẳng hoặc cong do mòn chức năng.
Sự mòn răng tăng dần theo độ tuổi, làm thay đổi cấu trúc bề mặt, mất mô răng và những thay đổi về cơ học cũng như thẩm mĩ.



Có 3 dạng răng chính (H2.5).

Răng cửa bên
Khá giống răng cửa giữa nhưng kích thước nhỏ hơn (xem lại H2.3f) và các góc cắn hơi tròn hơn (H2.6).
Răng cửa bên là răng có sự đa dạng về hình thể nhất, ngoài ra còn hay gặp các bất thường như răng cửa bên hình nón, rãnh tăng trưởng nằm ở mặt trong mở rộng về phía chóp răng.
Răng nanh
Được đặc trưng bởi nhiều độ cong (H2.6). Răng nanh dày theo chiều ngoài trong do sự phát triển của cingulum.

Xem tiếp phần 2 tại đây.
Nguồn: Bonded Porcelain Restorations in The Anterior Dentition – Pascal Magne, Urs Belser.


Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P2
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P6
Thẩm mỹ và cơ học sinh học trong chỉnh nha – P12 – Đánh giá thẩm mỹ trong chỉnh nha