Việc mở tủy khi điều trị nội nha, hay nói chính xác hơn là thiết kế xoang tủy, tương tự như xoang inlay, nghĩa là phải có độ thuôn và không bị khấc. Hình dạng xoang tủy phản ánh hình dạng cấu trúc bên trong của răng và hình dạng buồng tủy.
Khi nhìn từ mặt nhai hoặc mặt trong phải thấy rõ tất cả miệng ống tủy (H5.1 a,b).


Sửa soạn xoang tủy là bước đầu tiên vô cùng quan trọng để điều trị nội nha thành công. Tất cả những bước về sau có được thực hiện tốt hay không đều phụ thuộc độ chính xác của lối vào.
Mở tủy sai có thể dẫn đến:
- Sót ống tủy
- Cản trở thao tác tay khi làm việc, đặc biệt khi lỗ mở tủy quá nhỏ.
- Không lấy sạch tủy, đặc biệt phần tủy buồng, từ đó gây đổi màu răng về sau.
Các mũi khoan cần thiết cho mở tủy ngoài bộ dụng cụ cơ bản:
Để mở qua lớp men và ngà trên cùng thì cần các mũi khoan kim cương hoặc carbide (H5.2)



Có thể xác định độ sâu trần tủy bằng cách đặt mũi khoan lên phim để ước lượng (H5.3).

Khi đã có cảm giác hẫng tay thì chứng tỏ phần trần tủy đã thủng, nên sử dụng các mũi khoan có đầu tận cùng an toàn để tiếp tục (H5.4).

Răng cửa giữa hàm trên (H5.6)

Do buồng tủy rộng ở phía rìa cắn và hẹp hơn ở vùng cổ răng nên lỗ mở tủy có dạng tam giác. Cần mở rộng về phía gần và phía xa để lấy sạch sừng tủy. Lỗ mở tủy nên sát với rìa cắn để có thể tạo một đường thẳng đến chóp, đặc biệt đối với những bệnh nhân lớn tuổi.
Răng cửa bên hàm trên (H5.7).

Các răng này khá mảnh hơn so với các răng cửa giữa, thiết diện cắt ngang ống tủy có hình oval, nên lỗ mở tủy cũng có hình oval, với đường kính lớn là chiều trên dưới (rìa cắn – cổ răng). Cũng nên mở sát rìa cắn để có lối vào thẳng.
Răng nanh hàm trên (H5.8)

Răng nanh có buồng tủy hẹp và chỉ có một sừng tủy. Lỗ mở tủy có dạng oval, đường kính lớn là chiều trên dưới, hơi sát về phía mặt trong do thân răng thường nghiêng ngoài.
Răng 4 hàm trên (H5.9).

Răng này có rất nhiều biến thể khác nhau về số lượng cũng như hình dạng ống tủy. Thường có 2 ống tủy, ngoài và trong. Buồng tủy rộng theo chiều ngoài trong với 2 sừng tủy riêng biệt. Xoang tủy cũng có hình dạng tương tự, hình oval và rộng theo chiều ngoài trong. Xoang tủy đôi khi phải mở rộng đến múi răng khi ống tủy nằm bên dưới đỉnh múi.
Răng 5 hàm trên (H5.10).

R5 hàm trên thường có một chân răng và hai sừng tủy riêng biệt. Ống tủy rộng theo chiều ngoài trong và dẹt theo chiều gần xa. Lỗ mở tủy có dạng hình trứng, rộng theo chiều ngoài trong.
Răng 6 hàm trên (H5.11).
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.


Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P1
Sách Nội nha – tập 2
Sách nội nha – tập 1