April 2, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Ống thuốc tê nha khoa

1. Cấu tạo ống thuốc tê

Ống thuốc tê nha khoa là ống thủy tinh hình trụ, chứa thuốc tê và một số thành phần khác, được sản xuất dưới nhiều thể tích khác nhau (H7.1).

 

Ống thuốc tê nha khoa với các thể tích 1, 1.7 và 2.2 ml.
Hình 7.1. Ống thuốc tê nha khoa với các thể tích 1, 1.7 và 2.2 ml.

 

Cấu tạo một ống thuốc tê gồm có (H7.2):

  1. Ống thủy tinh hình trụ.
  2. Pittông cao su (nút chặn cao su).
  3. Nắp nhôm.
  4. Màng cao su.

 

A. Cấu tạo ống thuốc tê nha khoa. B. Nắp nhôm và màng cao su (không chứa nhựa latex).
Hình 7.2. A. Cấu tạo ống thuốc tê nha khoa. B. Nắp nhôm và màng cao su (không chứa nhựa latex).

 

Đối với những ống thuốc tê còn nguyên thì pittông cao su thường hơi thụt vào bên trong lòng ống một chút (H7.3).

 

Pittông cao su hơi thụt vào trong ống thuốc tê.
Hình 7.3. Pittông cao su hơi thụt vào trong ống thuốc tê.

 

Ống thuốc tê nào có pittông hơi lòi ra hoặc ngang mức ống thủy tinh thì không nên sử dụng.

 

2. Bảo quản và cách chuẩn bị thuốc tê

Các nhà sản xuất thường không đưa ra bất cứ thông tin nào về sự vô trùng ở bề mặt bên ngoài của ống thuốc tê nha khoa.

Ống thuốc tê không nên được hấp lại. Các thành phần bịt kín ống thuốc tê như nắp nhôm, màng cao su thường không có khả năng chịu được nhiệt độ quá cao trong lò hấp, thành phần thuốc co mạch trong thuốc tê sẽ bị biến chất ở nhiệt độ cao.

Ống thuốc tê nên được giữ trong vỉ chứa, ở nhiệt độ phòng (21 – 22 độ C) và ở nơi tối.

Đối với một số bác sĩ thích “khử trùng” ống thuốc tê thì có thể thấm gạc bằng isopropyl alcohol 91% không pha loãng hoặc ethyl alcohol 70% và lau sạch màng cao su với nắp nhôm (H7.6).

 

Cách lau ống thuốc tê nha khoa bằng cồn.
Hình 7.6. Cách lau ống thuốc tê nha khoa bằng cồn.

 

Ống thuốc tê không nên được ngâm chìm trong alcohol hoặc bất cứ dung dịch khử trùng nào vì màng cao su là màng bán thấm sẽ cho phép dung dịch khuếch tán vào bên trong ống thuốc tê, gây nhiễm bẩn thuốc tê.

Việc làm ấm ống thuốc tê thường không cần thiết, thực tế thì việc làm này có thể gây hại nhiều hơn lợi, vì nó có thể (1) làm bệnh nhân đau hơn khi chích và (2) gây biến chất thuốc co mạch do ở nhiệt độ cao (làm giảm thời gian hiệu quả tê và cảm giác bỏng rát khi bơm tê).

Ống thuốc tê nha khoa không nên để dưới ánh sáng mặt trời vì một số chất trong thuốc tê có thể bị biến đổi. Ảnh hưởng trên lâm sàng thường là gây oxi hóa chất co mạch, từ đó làm giảm thời gian hiệu quả tê và làm tăng sự khó chịu cho bệnh nhân khi bơm tê.

 

3. Những vấn đề thường gặp với ống thuốc tê nha khoa

  • Bong bóng (bọt) trong ống thuốc tê.
  • Nút chặn (pittông) bị thòi ra.
  • Cảm giác nóng rát khi chích.
  • Pit tông bị dính.
  • Nắp nhôm bị mòn.
  • Nắp nhôm bị gỉ.
  • Rò rỉ thuốc tê trong khi bơm.
  • Vỡ ống thuốc tê.

3.1. Bọt trong ống thuốc tê

Những bong bóng nhỏ, đường kính từ 1 – 2 mm thường thấy trong hầu hết ống thuốc tê nha khoa. Đó là khí Nitơ, được sủi bọt vào trong dung dịch thuốc tê trong quá trình đổ đầy ống thuốc tê để ngăn oxi bị kẹt trong ống, có khả năng gây oxi hóa và phá hủy chất co mạch. Tuy nhiên cũng có một vài ống thuốc tê không có bọt Nitơ (H7.9A).

 

Hình 7.9. (A) Ống thuốc tê bình thường không có bọt hoặc bọt nhỏ. Chú ý pittông cao su hơi thụt vào lòng ống.
Hình 7.9. (A) Ống thuốc tê bình thường không có bọt hoặc bọt nhỏ. Chú ý pittông cao su hơi thụt vào lòng ống.

 

Bọt quá to, có thể thấy pittông bị đẩy ra ngoài ống thuốc tê, là hậu quả của việc dung dịch thuốc tê bị đông lạnh (H7.9B).

 

Hình 7.9. (B) Ống thuốc tê với bọt quá to và nút chặn bị đẩy lùi ra sau do bị đông lạnh.
Hình 7.9. (B) Ống thuốc tê với bọt quá to và nút chặn bị đẩy lùi ra sau do bị đông lạnh.

 

Những ống thuốc tê như vậy không nên được sử dụng vì có thể sự vô trùng của dung dịch thuốc tê không còn được đảm bảo, mà nên trả lại nhà sản xuất.

 

3.2. Pittông cao su thòi ra ngoài ống thuốc tê

Khi pittông cao su thòi ra ngoài và có bọt lớn thì không nên sử dụng như đã nói ở trên.

Nếu cao su thòi ra ngoài mà không thấy bọt chứng tỏ là ống thuốc tê đã được ngâm trong một dung dịch khử trùng hóa học nào đó quá lâu và các chất hóa học từ bên ngoài đã thấm vào dung dịch thuốc tê bên trong (H17.10).

 

Hình 7.10. Pittông bị thòi ra ngoài.
Hình 7.10. Pittông bị thòi ra ngoài.

 

Shannon và Wescott chứng minh rằng alcohol thấm vào dung dịch thuốc tê bên trong thông qua màng cao su trong vòng 1 ngày nếu như ngâm chìm thuốc tê trong alcohol.

Dung dịch thuốc tê có chứa alcohol sẽ gây cảm giác bỏng rát khó chịu cho bệnh nhân khi bơm tê. Alcohol ở nồng độ cao là một tác nhân gây dị cảm thần kinh kéo dài.

Lưu ý rằng một lượng nhỏ dung dịch khử trùng có thể thấm vào bên trong ống thuốc tê mà không gây ra sự dịch chuyển nào của pittông. Do đó cần chú ý bảo quản thuốc tê kĩ lưỡng.

 

3.3. Cảm giác nóng rát khi bơm thuốc tê

Nguyên nhân có thể do một trong những yếu tố sau:

  • Phản ứng bình thường với pH acid của thuốc tê.
  • Thuốc tê bị nhiễm 1 vài chất hóa học từ dung dịch khử trùng.
  • Thuốc tê bị đun nóng.
  • Thuốc tê có chứa thuốc co mạch.

Vài giây ngay sau khi bơm thuốc tê, bệnh nhân thường có cảm giác nóng rát nhẹ. Đây là phản ứng rất bình thường do độ pH thấp của dung dịch thuốc tê, thường chỉ kéo dài một vài giây, cho đến khi thuốc tê đạt hiệu lực, và thường gặp ở những loại thuốc tê có chứa epinephrine hay levonordefrin (pH ~ 3.3 – 4.5).

Cảm giác nóng rát nặng thường do thuốc tê bị các chất hóa học trong dung dịch khử trùng khuếch tán vào. Dù cảm giác này thường chỉ gây khó chịu nhẹ, nhưng đôi khi những chất khử trùng như alcohol có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng, như dị cảm sau điều trị và phù nề.

Dung dịch thuốc tê được làm ấm quá mức cũng gây cảm giác nóng rát khi bơm tê. Thuốc tê ở nhiệt độ phòng là tốt nhất đối với bệnh nhân.

Việc thêm chất co mạch và chất chống oxi hóa (Natri bisulfite) làm giảm pH dung dịch thuốc tê xuống còn 3.3 – 4.5, nên tính acid cao hơn so với những dung dịch thuốc tê không có chất co mạch. Đôi khi pH thuốc tê còn giảm xuống do Natri bisulfite bị oxi hóa thành Natri bisulfate. Có thể hạn chế nguy cơ này bằng cách kiểm tra kĩ hạn sử dụng thuốc tê trước khi sử dụng.

 

3.4. Pittông bị dính

Ngày nay, “pittông bị dính” thường hiếm gặp vì người ta không sử dụng paraffin trong các ống thuốc tê nha khoa nữa mà thay vào đó là silicone để bôi trơn. Paraffin bị đông cứng vào những ngày trời lạnh (<16 độ).

 

3.5. Nắp nhôm bị mòn

Nắp nhôm có thể bị mòn khi ngâm ống thuốc tê trong dung dịch khử trùng có chứa muối amonium bậc IV, chẳng hạn như benzalkonium chloride (dung dịch khử trùng lạnh).

 

3.6. Nắp nhôm bị gỉ

Nắp nhôm bị gỉ chứng tỏ có ít nhất một ống thuốc tê trong hộp thiếc đã bị vỡ hoặc rò rỉ. Ngày nay vỉ thuốc tê làm bằng nhựa nên gỉ nắp nhôm cũng ít khi xảy ra.

 

3.7. Rò rỉ thuốc tê trong khi bơm

Do kim được vặn vào ống chích không đúng, lỗ đâm của kim vào màng cao su không có dạng tròn hoặc bị lệch tâm.

Lắp kim đúng vào ống chích, sau khi đã được nạp ống thuốc tê vào thì kim sẽ đâm vào màng cao su, tạo lỗ hình tròn. Khi sử dụng áp lực lên pittông thì dung dịch thuốc tê sẽ đi vào lòng kim.

Nếu nạp ống thuốc tê vào sau khi kim đã được gắn thì ngược lại, sẽ tạo lỗ hình trứng chứ không phải hình tròn, và bị lệch tâm. Khi sử dụng áp lực, một phần thuốc tê đi vào lòng kim, một phần rỉ ra ngoài thông qua kẽ hở giữa kim và màng cao su, chảy vào miệng bệnh nhân (H5.19).

 

Hình 5.19. (A) Lỗ đâm đúng trung tâm trên màng cao su. (B) Lỗ đâm lệch tâm (mũi tên) sẽ gây rò rỉ thuốc tê.
Hình 5.19. (A) Lỗ đâm đúng trung tâm trên màng cao su. (B) Lỗ đâm lệch tâm (mũi tên) sẽ gây rò rỉ thuốc tê.

 

Tuy nhiên do ống thuốc tê khi được nạp sẽ trượt thẳng vào trong ống chích chứ không phải nạp từ phía bên nên sự rò rỉ này cũng hiếm gặp.

 

3.8. Vỡ ống thuốc tê

Nguyên nhân chủ yếu là sử dụng ống thuốc tê đã bị nứt gãy do quá trình vận chuyển.

Nếu có một ống thuốc tê trong vỉ bị vỡ thì nên kiểm tra tất cả những ống còn lại, đặc biệt là vùng cổ ống thuốc tê và vị trí quanh pittông. Sử dụng ống thuốc tê bị nứt có thể gây vỡ ống thuốc tê vào miệng bệnh nhân, gây nuốt phải thủy tinh.

Ngoài ra nếu nắp nhôm bị méo mó hoặc hư hại thì phần ống thủy tinh cũng có thể bị ảnh hưởng, không nên sử dụng (H7.11).

 

Nắp nhôm bị hư
Hình 7.11. Nắp nhôm bị hư.

 

Gãy vỡ ống thuốc tê có thể xảy ra khi sử dụng ống thuốc tê có pittông bị thòi ra ngoài. Đẩy pittông ngược trở lại vào ống sẽ gây gãy vỡ.

 

Xem đầy đủ về ống thuốc tê nha khoa với sách “Cẩm nang gây tê trong nha khoa” tại đây.

 

Nguồn: Handbook of local anesthesia – Stanley F. Malamed.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message