Xem lại các phần trước tại đây.
Thao tác lâm sàng
Khi gắn phục hình băng xi măng nhựa thì được gọi là “dán”. Có 2 chất nền dán cần quan tâm đó là bề mặt răng (ngà răng, men răng) và bề mặt bên trong của phục hồi, thường yêu cầu xử lý trước khi dán.
Quy trình dán sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại vật liệu phục hồi và loại xi măng nhựa.
Quy trình dán xi măng nhựa là một quy trình nhạy cảm về mặt kỹ thuật và cần được thực hiện hết sức cẩn thận. Mỗi bước do nhà sản xuất khuyến cáo đã được chọn lọc từ nhiều nghiên cứu và cần được tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo kết quả tốt nhất. Bất cứ khi nào sử dụng một sản phẩm mới, điều bắt buộc là phải đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng.
Thành phần của xi măng nhựa thay đổi và độc quyền tùy theo nhãn hiệu ngay cả trong cùng một loại xi măng. Cho nên không thể cho rằng các hướng dẫn của một loại xi măng nhựa này có thể áp dụng với một loại xi măng nhựa khác ngay cả khi chúng cùng loại.
Kỹ thuật tẩm nhựa/ dán ngà răng tức thì (IDS)
Việc sử dụng chất dán ngà răng và nhựa có độ nhớt thấp để bịt kín các ống ngà ngay sau khi sửa soạn cùi răng lần đầu tiên được giới thiệu bởi Nikaido vào năm 1992. Quy trình này được gọi là “kỹ thuật phủ nhựa hoặc tẩm nhựa”.
Bềmặt ngà của cùi răng được bịt kín bằng keo dán ngà răng ngay sau khi mài sửa soạn răng, sau đó là phủ một loại nhựa có độ nhớt thấp như composite lỏng lên trên. Kỹ thuật này đã được chứng minh là làm giảm ê buốt sau điều trị trong giai đoạn phục hồi tạm và tăng độ bền liên kết xi măng với ngà răng bên dưới.
Kĩ thuật này sau đó được gọi là kỹ thuật “dán ngà tức thì” (IDS).
Ưu điểm của kĩ thuật này, đầu tiên là, ngà răng mới cắt sau khi sửa soạn cùi răng là chất nền lý tưởng để dán ngà vì tránh được sự nhiễm bẩn của xi măng tạm.
Thứ hai, quá trình polyme hóa trước của keo dán ngà giúp cải thiện độ bền liên kết. Độ dày của keo dán ngà răng (DBA) polyme hóa có thể thay đổi đáng kể tùy theo hình dạng bề mặt, trung bình là 60–80 µm trên bề mặt lồi nhẵn và lên đến 200-300 µm trên các bề mặt lõm. Thế nên việc bôi và trùng hợp keo dán ngà ngay trước khi lắp phục hồi gián tiếp có thể khiến phục hồi không khít sát. Tất cả những vấn đề nêu trên có thể được giải quyết nếu bề mặt ngà răng lộ ra được bịt kín ngay lập tức.
Thứ ba, IDS cho phép phát triển liên kết ngà răng không ứng suất. Do việc gắn phục hồi bị trì hoãn và tải lực nhai bị trì hoãn, liên kết ngà răng có thể tăng lên theo thời gian và ứng suất dư có thể tiêu tan dẫn đến khả năng khít sát của phục hồi được cải thiện.
Cuối cùng, IDS bảo vệ ngà răng khỏi bị rò rỉ vi khuẩn và ê buốt trong giai đoạn gắn phục hồi tạm.
Kĩ thuật IDS trên lâm sàng








Kỹ thuật gắn xi măng cho các loại phục hồi khác nhau
1. Inlay và onlay
1.1. Lựa chọn loại xi măng nhựa phù hợp
Việc sửa soạn inlay và onlay thường liên quan đến rất nhiều ngà răng. Inlay và onlay thường dày (trên 2 mm). Xem xét các yếu tố này, xi măng được khuyên dùng là xi măng nhựa self-etch hoặc xi măng nhựa tự dán. Cả hai loại xi măng đều là trùng hợp kép và do đó, chúng sẽ được trùng hợp bên dưới lớp phục hồi dày. Sự lựa chọn giữa xi măng nhựa self-etch hay là xi măng nhựa tự dán sẽ phụ thuộc vào mức độ lưu giữ cần thiết. Đối với các cùi răng có ít thành còn lại (Hình 22), nên chọn xi măng nhựa self-etch nếu có thể, thay vì xi măng nhựa tự dán.

Không nên sử dụng composite lỏng để gắn các inlay và onlay “dày” vì ánh sáng sẽ không xuyên qua hết độ dày này dẫn đến quá trình trùng hợp không đạt yêu cầu. Điều này có thể gây chết tủy do các monome không phản ứng.
1.2. Ca lâm sàng
Inlay composite R26 và 27 được chế tác tại labo và được dán bằng xi măng nhựa tự dán (Clearfil SA Luting, Kuraray, Nhật Bản). Các inlay đã được thổi cát tại labo.

bỏ các mảnh vụn trên bề mặt có thể cản trở sự liên kết.










thận khỏi bề mặt phục hồi. Chú ý không loại bỏ xi măng giữa phần phục hồi và bờ viền răng. Khi có một khoảng hở nhỏ giữa phục hồi và răng, sử dụng 1 cây cọ sạch để loại bỏ xi măng dư thừa trước khi chiếu đèn, nhằm bảo vệ “lớp xi măng” mỏng manh giữa răng và phục hồi.





Một trong những khó khăn trong quá trình gắn xi măng là đặt inlay lên trên cùi răng. Inlay/onlay rất nhỏ và dễ vỡ, dễ tuột khiến cho bệnh nhân dễ nuốt phải. Cách ly đê cao su luôn là biện phát tốt trong suốt quá trình lắp thử và gắn inlay. Để dễ thao tác với inlay/onlay, có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Sử dụng “que dính” để giữ phục hồi trong quá trình lắp. Que dính đóng vai trò như một “tay cầm” cho inlay. Chúng có thể có sẵn trên thị trường hoặc có thể được bác sĩ “chế” ra.


McLaren và Hamilton đề xuất hai kỹ thuật để chế biến “tay cầm” cho inlay/onlay/veneer. Bề mặt inlay trước tiên được lau cồn. Lấy một cây cọ siêu nhỏ hoặc cọ bôi keo, nhúng vào keo dán (không phải tổ hợp keo-primer mà là keo dán của hệ thống self-etch hai bước vì chúng không có tính axit) và chiếu đèn trùng hợp. Sau khi gắn inaly xong, tay cầm này có thể được tháo ra dễ dàng bằng cây nạo.
Kỹ thuật thứ 2 là sử dụng sáp dính. Sáp dính được làm nóng bằng đèn cồn và gắn lên bề mặt inlay. Để tháo tay cầm sau khi gắn xi măng xong thì phun nước vào sáp và vẩy tay cầm ra.
- Sử dụng băng Teflon. Một lớp băng Teflon mỏng được lót bên trong cùi răng đã sửa soạn trước khi lắp inlay vào. Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy inlay ra sau khi thử. Một nút thắt được buộc chặt vào bề mặt nhai của phục hồi trước khi tháo nó ra để bảo vệ khỏi bị mất hoặc nuốt phải do vô ý. Sau khi đánh giá độ khít sát, băng Teflon có thể dễ dàng tháo ra cùng với inlay.
1.3. Tóm lại, những điểm cần nhớ khi gắn inlay/onlay:
- Sử dụng xi măng trùng hợp kép khi gắn inlay/onlay. Composite lỏng không dùng để gắn inlay/onlay vì ánh sáng không thể xuyên qua các phục hồi dày.
- Tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất. Để có kết quả tốt nhất, nên lấy một lượng bằng nhau chất nền với chất xúc tác và trộn kỹ.
- Vì gắn phục hôig bằng xi măng nhựa là quy trình dán nên việc cách ly là rất quan trọng để ngăn ngừa nhiễm bẩn, có thể ảnh hưởng đến sự liên kết.
- Xi măng trùng hợp kép cần được trùng hợp bằng ánh sáng.
- Chỉ điều chỉnh khớp cắn sau khi inlay đã được gắn xi măng để tránh vô tình làm mất hoặc gãy phục hồi.
- Đảm bảo tất cả xi măng dư đã được loại bỏ trước khi trùng hợp lần cuối vì xi măng đã đông cứng hoàn toàn rất khó làm sạch.
Xem tiếp phần 5 tại đây.
Nguồn: A Practical Clinical Guide to Resin Cements – Michelle Sunico Segarra, Armin Segarra.

Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P6
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P5
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P4