June 10, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Sử dụng xi măng nhựa trong gắn phục hình – P4

Xem lại các phần trước tại đây.

 

Thao tác lâm sàng

Khi gắn phục hình băng xi măng nhựa thì được gọi là “dán”. Có 2 chất nền dán cần quan tâm đó là bề mặt răng (ngà răng, men răng) và bề mặt bên trong của phục hồi, thường yêu cầu xử lý trước khi dán.

Quy trình dán sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại vật liệu phục hồi và loại xi măng nhựa.

Quy trình dán xi măng nhựa là một quy trình nhạy cảm về mặt kỹ thuật và cần được thực hiện hết sức cẩn thận. Mỗi bước do nhà sản xuất khuyến cáo đã được chọn lọc từ nhiều nghiên cứu và cần được tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo kết quả tốt nhất. Bất cứ khi nào sử dụng một sản phẩm mới, điều bắt buộc là phải đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng.

Thành phần của xi măng nhựa thay đổi và độc quyền tùy theo nhãn hiệu ngay cả trong cùng một loại xi măng. Cho nên không thể cho rằng các hướng dẫn của một loại xi măng nhựa này có thể áp dụng với một loại xi măng nhựa khác ngay cả khi chúng cùng loại.

 

Kỹ thuật tẩm nhựa/ dán ngà răng tức thì (IDS)

Việc sử dụng chất dán ngà răng và nhựa có độ nhớt thấp để bịt kín các ống ngà ngay sau khi sửa soạn cùi răng lần đầu tiên được giới thiệu bởi Nikaido vào năm 1992. Quy trình này được gọi là “kỹ thuật phủ nhựa hoặc tẩm nhựa”.

Bềmặt ngà của cùi răng được bịt kín bằng keo dán ngà răng ngay sau khi mài sửa soạn răng, sau đó là phủ một loại nhựa có độ nhớt thấp như composite lỏng lên trên. Kỹ thuật này đã được chứng minh là làm giảm ê buốt sau điều trị trong giai đoạn phục hồi tạm và tăng độ bền liên kết xi măng với ngà răng bên dưới.

Kĩ thuật này sau đó được gọi là kỹ thuật “dán ngà tức thì” (IDS).

Ưu điểm của kĩ thuật này, đầu tiên là, ngà răng mới cắt sau khi sửa soạn cùi răng là chất nền lý tưởng để dán ngà vì tránh được sự nhiễm bẩn của xi măng tạm.

Thứ hai, quá trình polyme hóa trước của keo dán ngà giúp cải thiện độ bền liên kết. Độ dày của keo dán ngà răng (DBA) polyme hóa có thể thay đổi đáng kể tùy theo hình dạng bề mặt, trung bình là 60–80 µm trên bề mặt lồi nhẵn và lên đến 200-300 µm trên các bề mặt lõm. Thế nên việc bôi và trùng hợp keo dán ngà ngay trước khi lắp phục hồi gián tiếp có thể khiến phục hồi không khít sát. Tất cả những vấn đề nêu trên có thể được giải quyết nếu bề mặt ngà răng lộ ra được bịt kín ngay lập tức.

Thứ ba, IDS cho phép phát triển liên kết ngà răng không ứng suất. Do việc gắn phục hồi bị trì hoãn và tải lực nhai bị trì hoãn, liên kết ngà răng có thể tăng lên theo thời gian và ứng suất dư có thể tiêu tan dẫn đến khả năng khít sát của  phục hồi được cải thiện.

Cuối cùng, IDS bảo vệ ngà răng khỏi bị rò rỉ vi khuẩn và ê buốt trong giai đoạn gắn phục hồi tạm.

 

Kĩ thuật IDS trên lâm sàng

 

Hình 14. Sửa soạn cùi răng inlay R26.

 

Hình 15. Răng được làm sạch bằng pumice để loại bỏ chất bẩn trên bề mặt.

 

Hình 16. Primer self-etch được sử dụng để dán ngà tức thì (IDS) với chuyển động chà nhẹ trong 20 giây và sau đó thổi hơi nhẹ trong 5-10 giây.

 

Hình 17. Bề mặt bóng sau khi bôi primer self-etch cho thấy primer đã xuyên qua vào các ống ngà.

 

Hình 18. Bôi keo dán và thổi hơi nhẹ.

 

Hình 19. Chiếu đèn trong 10 giây.

 

Hình 20. Bơm 1 lớp mỏng composite lỏng lên trên.

 

Hình 21. Composite lỏng được chiếu đèn trùng hợp, sau đó thực hiện lấy dấu.

 

 

Kỹ thuật gắn xi măng cho các loại phục hồi khác nhau

1. Inlay và onlay

1.1. Lựa chọn loại xi măng nhựa phù hợp

Việc sửa soạn inlay và onlay thường liên quan đến rất nhiều ngà răng. Inlay và onlay thường dày (trên 2 mm). Xem xét các yếu tố này, xi măng được khuyên dùng là xi măng nhựa self-etch hoặc xi măng nhựa tự dán. Cả hai loại xi măng đều là trùng hợp kép và do đó, chúng sẽ được trùng hợp bên dưới lớp phục hồi dày. Sự lựa chọn giữa xi măng nhựa self-etch hay là xi măng nhựa tự dán sẽ phụ thuộc vào mức độ lưu giữ cần thiết. Đối với các cùi răng có ít thành còn lại (Hình 22), nên chọn xi măng nhựa self-etch nếu có thể, thay vì xi măng nhựa tự dán.

 

Hình 22. Cùi răng onlay với rất ít thành răng còn lại, dẫn đến độ lưu kém. Mặc dù có thể sử dụng cả xi măng nhựa self-etchxi măng nhựa tự dán, nhưng xi măng nhựa self-etch thường là lựa chọn tốt hơn.

 

 

Không nên sử dụng composite lỏng để gắn các inlay và onlay “dày” vì ánh sáng sẽ không xuyên qua hết độ dày này dẫn đến quá trình trùng hợp không đạt yêu cầu. Điều này có thể gây chết tủy do các monome không phản ứng.

 

1.2. Ca lâm sàng

Inlay composite R26 và 27 được chế tác tại labo và được dán bằng xi măng nhựa tự dán (Clearfil SA Luting, Kuraray, Nhật Bản). Các inlay đã được thổi cát tại labo.

 

Hình 23. Răng được làm sạch bằng pimice để loại
bỏ các mảnh vụn trên bề mặt có thể cản trở sự liên kết.

 

 

Hình 24. Để đảm bảo quy trình dán, cần phải cách ly  tốt.

 

 

Hình 25. Thử inlay. Kiểm tra và điều chỉnh điểm vướng bằng cao su Fit Checker và giấy cắn.

 

 

Hình 26. Bề mặt bên ngoài inlay được phủ một lớp mỏng cách ly để thuận tiện cho việc làm sạch về sau. Cần cẩn thận để không vô tình bôi vào bề mặt dán.

 

 

Hình 27. (a) Xi măng nhựa tự dán (Clearfil SA Luting, Kuraray, Nhật Bản) được bơm lên tấm trộn. (b) Trộn 2 paste lại với nhau bằng động tác gấp nếp để tránh bọt khí. (c) Xi măng được trộn đúng cách, có thể kéo dài lên 2 cm mà không bị đứt.

 

 

Hình 28. Cho một lượng nhỏ xi măng nhựa vào xoang inlay để đảm bảo rằng các thành răng bên trong được phủ xi măng tốt và giảm thiểu khoảng hở.

 

 

Hình 29. Để đảm bảo bờ viền phía nướu được bịt kín, cho một lượng nhỏ xi măng nhựa lên sàn xoang phía nướu và phía tiếp xúc.

 

 

Hình 30. Cho xi măng nhựa lên mặt bên trong của phục hồi.

 

 

Hình 31. Đặt inlay lên R26 với lực ấn chậm và nhẹ. Không đặt phục hồi bằng lực đột ngột  và mạnh vì có thể tạo ra áp lực tích tụ giữa thành răng và phục hồi, làm đẩy phục hồi về mặt nhai. Lực ấn ổn định và chậm sẽ có đủ thời gian để xi măng dư chảy ra ngoài, hỗ trợ việc đặt phục hồi đúng vị trí.

 

 

Hình 32. Xi măng được trùng hợp nhanh trong 1-2 giây, không được trùng hợp hoàn toàn cho đến khi loại bỏ hết xi măng dư thừa. Việc trùng hợp nhanh trong vài giây giúp tạo cho xi măng dư một độ đặc dễ bong ra khỏi răng và phục hồi do đó dễ làm sạch.

 

 

Hình 33. Xi măng dư thừa được loại bỏ cẩn
thận khỏi bề mặt phục hồi. Chú ý không loại bỏ xi măng giữa phần phục hồi và bờ viền răng. Khi có một khoảng hở nhỏ giữa phục hồi và răng, sử dụng 1 cây cọ sạch để loại bỏ xi măng dư thừa trước khi chiếu đèn, nhằm bảo vệ “lớp xi măng” mỏng manh giữa răng và phục hồi. 

 

 

Hình 34. Thử inlay R27. Đặt một tờ giấy cắn vào giữa hai inlay để kiểm tra xem có chạm sớm ở vùng tiếp xúc bên không.

 

 

Hình 35. Lưu ý vị trí in dấu là vị trí tiếp xúc sớm, có thể ngăn cản sự khít sát hoàn toàn của inlay. Mài chỉnh inlay (trên đai) để loại bỏ phần chạm sớm này. Phải đặt inlay trên đai để mài chỉnh nhằm tránh gãy.

 

 

Hình 36. Inlay R27 được gắn xi măng bằng kỹ thuật tương tự.

 

 

Hình 37. Việc điều chỉnh khớp cắn chỉ được thực hiện sau khi inlay đã được gắn xi măng.

 

 

Hình 38. Hoàn tất.

 

 

Một trong những khó khăn trong quá trình gắn xi măng là đặt inlay lên trên cùi răng. Inlay/onlay rất nhỏ và dễ vỡ, dễ tuột khiến cho bệnh nhân dễ nuốt phải. Cách ly đê cao su luôn là biện phát tốt trong suốt quá trình lắp thử và gắn inlay. Để dễ thao tác với inlay/onlay, có thể áp dụng các biện pháp sau:

  1. Sử dụng “que dính” để giữ phục hồi trong quá trình lắp. Que dính đóng vai trò như một “tay cầm” cho inlay. Chúng có thể có sẵn trên thị trường hoặc có thể được bác sĩ “chế” ra.

 

Hình 39. Que dính Pic-n-Stic (Pulpdent).

 

 

Hình 40. Pic-n-Stic dùng để đặt onlay trên  R27.

 

McLaren và Hamilton đề xuất hai kỹ thuật để chế biến “tay cầm” cho inlay/onlay/veneer. Bề mặt inlay trước tiên được lau cồn. Lấy một cây cọ siêu nhỏ hoặc cọ bôi keo, nhúng vào keo dán (không phải tổ hợp keo-primer mà là keo dán của hệ thống self-etch hai bước vì chúng không có tính axit) và chiếu đèn trùng hợp. Sau khi gắn inaly xong, tay cầm này có thể được tháo ra dễ dàng bằng cây nạo.

Kỹ thuật thứ 2 là sử dụng sáp dính. Sáp dính được làm nóng bằng đèn cồn và gắn lên bề mặt inlay. Để tháo tay cầm sau khi gắn xi măng xong thì phun nước vào sáp và vẩy tay cầm ra.

 

  1. Sử dụng băng Teflon. Một lớp băng Teflon mỏng được lót bên trong cùi răng đã sửa soạn trước khi lắp inlay vào. Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy inlay ra sau khi thử. Một nút thắt được buộc chặt vào bề mặt nhai của phục hồi trước khi tháo nó ra để bảo vệ khỏi bị mất hoặc nuốt phải do vô ý. Sau khi đánh giá độ khít sát, băng Teflon có thể dễ dàng tháo ra cùng với inlay.

 

1.3. Tóm lại, những điểm cần nhớ khi gắn inlay/onlay:

  1. Sử dụng xi măng trùng hợp kép khi gắn inlay/onlay. Composite lỏng không dùng để gắn inlay/onlay vì ánh sáng không thể xuyên qua các phục hồi dày.
  1. Tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất. Để có kết quả tốt nhất, nên lấy một lượng bằng nhau chất nền với chất xúc tác và trộn kỹ.
  2. Vì gắn phục hôig bằng xi măng nhựa là quy trình dán nên việc cách ly là rất quan trọng để ngăn ngừa nhiễm bẩn, có thể ảnh hưởng đến sự liên kết.
  1. Xi măng trùng hợp kép cần được trùng hợp bằng ánh sáng.
  2. Chỉ điều chỉnh khớp cắn sau khi inlay đã được gắn xi măng để tránh vô tình làm mất hoặc gãy phục hồi.
  1. Đảm bảo tất cả xi măng dư đã được loại bỏ trước khi trùng hợp lần cuối vì xi măng đã đông cứng hoàn toàn rất khó làm sạch.

 

Xem tiếp phần 5 tại đây.

 

Nguồn: A Practical Clinical Guide to Resin Cements – Michelle Sunico Segarra, Armin Segarra.