May 1, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P2- Giá khớp

Xem lại phần 1 tại đây.

 

Phần I. Các vận động và định nghĩa các vận động của hàm dưới

Chương 2. Vai trò của giá khớp trong việc tái tạo vận động hàm dưới

Giá khớp (articulator) là những dụng cụ cơ học mô phỏng khớp thái dương hàm (TMJ), hàm dưới và hàm trên, trên đó các mẫu hàm có thể được gắn và quan sát trong cả tương quan tĩnh và động. Chúng hữu ích trong chẩn đoán khi phân tích khớp cắn bệnh nhân từ ngoài miệng. Giá khớp với khả năng sao chép các vận động và vị trí của hàm dưới cũng hỗ trợ trong việc chế tạo phục hình tại labo.

Phân loại

Giá khớp được chia thành ba loại chính:

  • Loại giá trị trung bình (Average value)
  • Loại bán điều chỉnh (Semi-adjustable)
  • Loại toàn điều chỉnh (Fully-adjustable)

Sự phân loại này dựa trên khả năng tương đối của chúng trong việc sao chép vận động của hàm dưới. Việc lựa chọn loại giá khớp phụ thuộc vào chỉ định lâm sàng, kiến thức và kỹ năng của bác sĩ sử dụng, đồng thời phải dựa trên sự hiểu biết rõ ràng về ưu điểm và hạn chế của từng loại.

Ngoài ra, còn có những loại bản lề đơn giản (simple hinges) và các bộ định vị mẫu hàm khác (cast relators) có thể được sử dụng để định vị mẫu hàm tại một vị trí nhất định, nhưng không có khả năng mô phỏng vận động của hàm dưới.

Bộ định vị mẫu hàm (cast relator)

 

Hình14. Bộ bản lề đơn giản gồm hai khung cứng được nối với nhau bằng một bản lề và đôi khi có thêm vít điều chỉnh để thay đổi khoảng cách giữa hai khung. Chúng chỉ cho phép mở bản lề đơn giản quanh một trục nằm ngang, mà khoảng cách từ trục này đến các mẫu hàm đều do người dùng quyết định một cách tùy ý, và thường ngắn hơn nhiều so với khoảng cách thực tế giữa khớp thái dương hàm và răng của bệnh nhân.

 

Bộ bản lề đơn giản không thể mô phỏng bất kỳ vận động hay vị trí nào của hàm dưới ngoài vị trí khớp cắn trung tâm (ICP), do đó không phù hợp cho chẩn đoán khớp cắn. Chúng chỉ được dùng để quan sát tương quan tĩnh khi chế tác mão răng đơn lẻ theo vị trí lồng múi hiện có.

Phục hình chế tạo trên loại dụng cụ này không được yêu cầu tiếp xúc trong miệng ở bất kỳ vị trí nào khác ngoài ICP, và bệnh nhân cần có hướng dẫn răng trước (anterior guidance) đầy đủ để đảm bảo sự nhả khớp nhanh chóng.

Những phục hình thực hiện trên loại dụng cụ này có thể cần phải được điều chỉnh trong miệng để loại bỏ các cản trở sang bên và cản trở đưa hàm ra trước, đặc biệt khi bệnh nhân không có hướng dẫn răng trước dốc.

 

Hình 15. Verticulator bao gồm các càng trên và dưới để gắn mẫu hàm vào. Càng trên trượt lên xuống trên các trụ kim loại, cho phép mẫu hàm được đưa vào tiếp xúc ở vị trí lồng múi tối đa (ICP). Verticulator được sử dụng trong các tình huống tương tự như loại bản lề (hinge), nhưng nó có khả năng định vị mẫu hàm chính xác hơn.

 

Giá khớp loại giá trị trung bình (Average-value articulators)

 

Hình 16. Giá khớp loại giá trị trung bình.

 

Các dụng cụ này có khả năng thực hiện chuyển động sang bên và đưa ra trước, có kích thước giải phẫu (tức là được chế tạo theo tỷ lệ gần giống với kích thước thật của khớp thái dương hàm và hộp sọ người). Tuy nhiên, chúng không chấp nhận bản ghi cung mặt; do đó tương quan giữa trục lồi cầu và mẫu hàm là tùy ý, và chúng không thể tái tạo chính xác các vận động. Góc mà “lồi cầu” di chuyển được cố định theo các giá trị trung bình. Những dụng cụ này không có ứng dụng lâm sàng thực sự.

 

Giá khớp bán điều chỉnh (semi-adjustable articulator)

Giá khớp bán điều chỉnh là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong cả chẩn đoán và điều trị, được thiết kế theo kích thước giải phẫu, khoảng cách giữa các lồi cầu gần giống với bệnh nhân trung bình, nhưng thường không có khả năng điều chỉnh nhiều.

Chúng chấp nhận bản ghi cung mặt, cho phép chuyển tương quan giữa trục bản lề và răng từ bệnh nhân. Hai đặc điểm này, cùng với khả năng điều chỉnh góc chuyển động lồi cầu ở mặt phẳng dọc và ngang, giúp những dụng cụ này mô phỏng tương đối chính xác vận động hàm dưới sang bên và ra trước.

 

Hình 17. Giá khớp bán điều chỉnh có thể được chia thành hai loại chính. Giá khớp Arcon (giá khớp – lồi cầu, chữ Arcon gồm Ar (viết tắt của Articulator, nghĩa là giá khớp, “Con” viết tắt của Condyle, nghĩa là lồi cầu, tạo thành Arcon) như Denar MKII (hình 17a), Whipmix (hình 17b) và Sam (hình 17c) thể hiện rõ hơn tương quan giải phẫu khi có lồi cầu ở phần dưới và hõm khớp ở phần trên. Ưu điểm chính của sự sắp xếp này là giúp hiểu được chuyển động của hàm dưới. Khả năng tháo lắp phần trên của giá khớp rất hữu ích trong nhiều quy trình phục hình, chẳng hạn như phục hình bằng sáp với kỹ thuật đắp sáp.

 

 

Hình 18. Các giá khớp dạng non-Arcon như Dentatus ARH có lồi cầu ở phần trên. Chúng được khóa chặt vào rãnh lồi cầu nên không thể nhấc phần trên của giá khớp ra. Điều này hữu ích khi lắp răng giả nhưng lại là trở ngại cho các thủ thuật phục hình cố định.

 

Điều chỉnh lồi cầu trong giá khớp bán điều chỉnh

Nên thực hiện những điều chỉnh này trước khi gắn mẫu hàm vào giá khớp. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi độ nghiêng của thành hõm khớp đều có thể làm thay đổi tương quan giữa lồi cầu và hõm khớp ở vị trí lui sau.

 

Hình 19. Giá khớp bán điều chỉnh với độ nghiêng lồi cầu có thể điều chỉnh được, ảnh hưởng đến góc chuyển động lồi cầu trong quá trình đưa hàm ra trước và bên không làm việc trong vận động sang bên. Minh họa ở đây là các điều chỉnh độ nghiêng lồi cầu của Denar MKII (hình 19a, 19b), Whipmix (hình 19c, 19d), Sam (hình 19e, 19f) và Dentatus (hình 19g, 19h). CI = Độ nghiêng lồi cầu.

 

 

Hình 20. Các giá khớp này có góc Bennett có thể điều chỉnh được, cũng sẽ ảnh hưởng đến đường đi của lồi cầu bên không làm việc. Denar MKII (hình 20a, 20b) có thành gần có thể điều chỉnh nhờ góc nghiêng so với mặt phẳng đứng có thể thay đổi. Whipmix (hình 20c, 20d) và Sam (hình 20e, 20f) rất giống nhau. Dentatus (hình 20g, 20h) đạt được điều này bằng cách xoay toàn bộ cụm lồi cầu trên trụ đỡ của nó. BA = Góc Bennett; M = Thành gần.

 

Các nhà sản xuất khuyến nghị rằng những điều chỉnh này nên được thiết lập bằng cách sử dụng các dấu cắn khi hàm đưa ra trước và sang bên. Tuy nhiên, quy trình này không chính xác vì các lý do sau:

  • Thứ nhất, dấu cắn tạo ra một góc được hình thành bởi mặt phẳng ngang và một đường thẳng kéo từ vị trí lui sau (retruded position) đến điểm mà dấu cắn được thực hiện. Do đó, nếu thực hiện dấu cắn kiểm tra ở những mức độ đưa ra trước hoặc sang bên khác nhau thì sẽ tạo ra các giá trị khác nhau nếu bệnh nhân có đường vận động cong. Vì trên 90% đường đi lồi cầu là cong nên quy trình này sẽ không chính xác đối với hầu hết bệnh nhân.
  • Thứ hai, trong hầu hết các loại giá khớp bán điều chỉnh, lồi cầu bên làm việc chỉ có thể xoay và thường không có khả năng tái tạo được chuyển động Bennett hay trượt bên (sideshift). Do đó, nếu bệnh nhân có bất kỳ mức độ trượt bên nào thì dấu cắn sang bên sẽ không thể khớp chính xác giữa hai mẫu hàm do hạn chế cơ học của hõm lồi cầu.

Trong đa số trường hợp, độ dốc lồi cầu và góc Bennett được thiết lập bằng các giá trị trung bình. Tuy nhiên, khi chế tác phục hình răng sau trên một giá khớp bán điều chỉnh thì việc đặt độ dốc lồi cầu phẳng hơn sẽ hợp lý, đặc biệt nếu bệnh nhân có hướng dẫn răng trước (anterior guidance) hạn chế. Điều này sẽ dẫn đến việc tạo ra các múi răng phẳng hơn, có khả năng nhả khớp trong miệng dễ dàng hơn.

 

Hình 21. Một số giá khớp bán điều chỉnh có khả năng điều chỉnh thêm. Denar MKII (hình 21a) có bộ phận điều chỉnh trượt bên (sideshift) tức thì, cho phép dịch chuyển thành trong của hõm khớp về phía trong, từ đó tạo điều kiện cho một phần trượt sớm trong khi vận động sang bên. Sự điều chỉnh này cũng thường được thực hiện một cách tùy ý. Tuy nhiên, khi đắp sáp răng sau để có vùng tiếp xúc trung tâm rộng, có thể đặt điều chỉnh này để cho phép giá khớp dịch chuyển sang bên cho đến khi các răng hướng dẫn tiếp xúc và gây nhả khớp. Khoảng cách liên lồi cầu (intercondylar distance) trên Whipmix (hình 21b) có thể thay đổi theo ba mức: nhỏ (S), trung bình (M) và lớn (L). Những khoảng này được đo trực tiếp từ cung mặt.

 

 

Hình 22. Các loại giá khớp bán điều chỉnh có thể đi kèm với hai loại bàn hướng dẫn phía trước. Loại thứ nhất là bàn kim loại có thể điều chỉnh với bề mặt phẳng (hình 22a), loại thứ hai bằng nhựa và được thiết kế để đúc tùy chỉnh với nhựa acrylic (hình 22b). Mục đích của bàn này là để hỗ trợ hướng dẫn các vận động sang bên và ra trước. Vì cấu hình bề mặt của nó cần mô phỏng các mặt hướng dẫn (mặt trong) của răng cửa trên, vốn có dạng lõm, nên bàn kim loại hầu như không có tác dụng.

 

Các bản ghi cần thiết để gắn mẫu hàm đúng lên giá khớp bán điều chỉnh bao gồm bản ghi cung mặt và bản ghi khớp cắn.

 

Chuyển cung mặt

 

Hình 23. Cung mặt là một thiết bị giống như compa, ghi lại tương quan giữa trục bản lề và răng hàm trên, rồi cho phép truyền đạt tương quan này đến giá khớp. Ngoài việc sao chép chính xác hơn các chuyển động ngang, thiết bị này còn cho phép gắn mẫu hàm ở KTD khớp cắn lớn hơn, sau đó đóng lại với nhau để xác định và nghiên cứu tiếp xúc khớp cắn.

 

Có hai loại cung mặt: cung mặt trục động học hoặc trục bản lề, và cung mặt trục trung bình.

 

Cung mặt trục động học hoặc trục bản lề

 

Hình 24. Cung mặt trục động học hay cung mặt trục bản lề bao gồm hai cung gắn vào hàm dưới và hàm trên. Cung hàm trên nâng đỡ hai bàn kim loại thẳng đứng được đặt trên các lồi cầu (hình 24a). Cung hàm dưới có hai trâm kim loại ngang với đầu nhọn được căn chỉnh với dấu chấm trên giấy gắn vào các bàn kim loại. Bệnh nhân được hướng dẫn vào vị trí lui sau (retruded position) và thực hiện vận động đóng mở trên trục bản lề sao cho lồi cầu chỉ quay mà không trượt. Sự di chuyển của các đầu nhọn của trâm so với dấu chấm trên giấy được ghi nhận, và điều chỉnh vị trí của chúng cho đến khi trùng với trục bản lề. Mực được bôi lên đầu nhọn của cả hai trâm, sau đó dùng để đánh dấu lên da bệnh nhân (hình 24b), xác định vị trí của trục ngang. Sau đó, tháo dụng cụ xác định trục bản lề này ra khỏi bệnh nhân.

Tiếp theo là thực hiện quá trình chuyển cung mặt, sử dụng hai dấu mốc này làm điểm tham chiếu phía sau. Để chuyển tương quan này một cách chính xác, cần có điểm tham chiếu thứ ba. Điểm này đặt ở phía trước khuôn mặt, vị trí chính xác phụ thuộc vào từng loại giá khớp và hệ thống cung mặt được sử dụng.

 

Cung mặt trục trung bình

Xác định trục bản lề là một thủ thuật đòi hỏi nhiều kỹ năng và tốn thời gian. Do đó, đã có các hệ thống cung mặt được phát triển sử dụng các điểm tham chiếu trung bình phía sau, dựa trên những mốc giải phẫu có thể đo đạc được trong vùng gần trục liên lồi cầu. Việc sử dụng chúng cho thao tác chuyển cung mặt mà không gây mất độ chính xác có ý nghĩa lâm sàng trong các vận động được tạo ra bởi giá khớp.

Tình huống duy nhất mà sai số đáng kể có thể xảy ra là khi KTD cắn khớp bị thay đổi trên giá khớp, vì lúc này vận động mở hoặc đóng sẽ không còn diễn ra theo một cung tròn quanh trục bản lề thật sự. Điều này không có ý nghĩa khi gắn mẫu hàm chẩn đoán, nhưng lại quan trọng khi gắn mẫu hàm làm việc để chế tác phục hình.

 

Hình 25. Hệ thống Denar sử dụng một cung tự định tâm, trong đó ống tai ngoài được dùng làm các điểm tham chiếu phía sau (hình 25a) và một điểm nằm trên đường thẳng đứng, cách đỉnh rìa cắn R12 42 mm được dùng làm điểm tham chiếu phía trước (hình 25b). Việc sử dụng điểm tham chiếu phía sau trung bình này đã được chứng minh là chính xác hơn so với các điểm trung bình khác được đánh dấu trên khuôn mặt.

 

 

Hình 26. Sau khi hoàn tất các thủ thuật lâm sàng, bộ phận nĩa cắn có thể được tháo rời khỏi cung mặt và gắn vào giá khớp cắn bằng một bộ jig (mounting jig) thay thế cho bàn răng cửa (incisal table). Sau đó, mẫu hàm hàm trên được gắn vào phần trên của giá khớp.

 

 

Hình 27. Hệ thống Whipmix (hình 27a) và Sam (hình 27b) cũng sử dụng ống tai ngoài làm điểm tham chiếu phía sau. Tuy nhiên, khác với Denar, chúng sử dụng điểm nasion làm điểm tham chiếu phía trước. Ngoài ra, toàn bộ cung mặt phải được chuyển sang giá khớp thay vì chỉ một phần nhỏ của nó. Hệ thống Dentatus (hình 27c) thì cồng kềnh hơn và kém chính xác hơn, sử dụng các điểm tham chiếu phía sau nằm cách 13 mm về phía trước so với phần sau của gờ bình tai (tragus) trên đường nối từ gờ bình tai đến khóe mắt ngoài. Điểm tham chiếu phía trước là bờ dưới ổ mắt trái.

 

Xem tiếp phần 3 tại đây.

Nguồn: A Colour Atlas of Occlusion and Malocclusion – A.P.Howat, N.J.Capp, N.V.J.Barrett.

Xin chào. Hãy nhắn tin cho mình nhé!