June 11, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Quy trình xử trí gãy trâm trong ống tủy – P2

Xem lại phần 1 tại đây.

 

Lần thử thứ hai bao gồm 4 bước:

  • Tạo lối vào thẳng phía thân răng (phía trên)
  • Tạo lối vào thẳng phía chóp (phía dưới)
  • Tạo bệ đỡ (staging platform)
  • Lấy trâm gãy bằng đầu siêu âm

 

 

Lấy trâm gãy bằng đầu siêu âm

* Kỹ thuật đầu tiên: 

– Chọn một dụng cụ siêu âm có kích thước phù hợp, sao cho chiều dài của nó chạm tới được vị trí trâm gãy và đường kính của nó vừa khít một cách thụ động với ống tủy đã được tạo hình trước đó.

– Sử dụng đầu tip Titanium ProUltra Endo (Dentsply) hoặc ET20ET25 (Satelec). Các đầu cắt mạnh không được khuyên dùng vì chúng có thể loại bỏ ngà răng quá mức và có nguy cơ phá hủy phần phía trên của đoạn gãy, do đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận phần gãy còn lại.

 

Hình 4. Mũi siêu âm ProUltra ENDO 1-5 có lớp một lớp phủ thô để cải thiện hiệu quả cắt, trong khi ProUltra ENDO 6-8 có chiều dài lớn hơn và đường kính nhỏ hơn khi không gian bị hạn chế.

 

 

 – Đầu tip của mũi siêu âm được đặt tiếp xúc chặt với vật cản và thường được kích hoạt ở mức cài đặt công suất thấp.

– Tất cả thao tác siêu âm bên dưới ống tủy được tiến hành KHÔ nên bác sĩ có thể liên tục quan sát tương quan vị trí của đầu mũi rung so với đoạn trâm gãy. Để duy trì khả năng quan sát, trợ thủ điều chỉnh và định hướng luồng không khí liên tục và thổi sạch bụi ngà.

– Các kỹ thuật siêu âm khi áp dụng để lấy trâm gãy thường không tạo ra quá nhiều nhiệt để gây hại cho mô.

– Di chuyển mũi siêu âm nhẹ nhàng theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, xung quanh vật cản. Hoạt động siêu âm này sẽ khoan, mài mòn ngà răng một cách chính xác và để lộ vài milimet thân răng từ vật cản. Thông thường, trong quá trình sử dụng siêu âm, vật cản bắt đầu lỏng ra và sau đó quay tròn. Nhẹ nhàng lách đầu nhọn của mũi siêu âm xuống vào giữa đoạn trâm gãy và thành ống tủy đôi khi khiến đoạn trâm gãy đột ngột trồi lên khỏi ống tủy.

 

 

Hình 102. Đầu mũi siêu âm (ET20 hoặc ProUltra 6, 7 hoặc 8) được sử dụng để tạo rãnh xung quanh đoạn gãy và giải phóng phía trên nó.

 

 

 

 

Hình 104. Bộc lộ phần trên mảnh gãy bằng mũi siêu âm khô xung quanh mảnh gãy và đầu siêu âm được kích hoạt ở mức cài đặt công suất thấp. Rung siêu âm sẽ dần lấy mảnh gãy ra.

 

– Về mặt lâm sàng, sau khi tạo ra một bệ đỡ và bộc lộ đầu đoạn gãy, nhẹ nhàng đưa đầu rung xuống giữa phần trâm gãy thuôn nhọn và thành ống tủy thuôn nhọn nhiều lần, đầu siêu âm được kích hoạt ở cài đặt công suất thấp, do đó nó khoan ngà răng và sự rung động được truyền đến đoạn gãy, thường sẽ làm cho đoạn gãy lỏng dần và bung ra khỏi ống tủy.

 

Hình 6. Chân gần của một R6 bị gãy trâm (chân xa đã được cắt bỏ). Lưu ý trong chân răng ngoài còn có một chốt vặn ngắn, một đoạn trâm gãy và mảnh vụn amalgam. Ảnh chụp cho thấy bệ đỡ đã được tạo xung quanh phần đầu của đoạn trâm gãy. Hình bên phải sau thời gian dài theo dõi lành thương, X quang thể hiện sự phục hồi và lành thương quanh chóp.

 

– Áp lực quá mức có thể đẩy đoạn gãy về phía chóp hoặc làm gãy luôn đầu siêu âm, vì vậy, cần tránh tạo áp lực không cần thiết bằng cách chỉ kích hoạt đầu siêu âm tiếp xúc nhẹ nhàng với mô chân răng.

 

* Kỹ thuật thứ hai:

– Đôi khi, dù bác sĩ có thể tạo ra khả năng tiếp cận thân răng và chân răng tốt, xác định và bộc lộ các đoạn gãy, thực hiện rung siêu âm mà vẫn không thể nới lỏng và loại bỏ trâm gãy. Việc tiếp tục có thể không an toàn do thiếu tầm nhìn hoặc hạn chế về mặt giải phẫu.

– Trong trường hợp này, các trâm tay nhỏ có thể được sử dụng với chất chelat dạng nước hoặc nhớt để lách qua một phần hoặc toàn bộ đoạn gãy và hy vọng loại bỏ trong quá trình bơm rửa.

 

* Kỹ thuật thứ ba:

– Một kỹ thuật khác đôi khi rất hữu ích khi chân răng còn mỏng hoặc một phần của trâm nằm ở chóp ống tuỷ cong.

– Phần tay cầm của cây trâm được tháo ra và đặt phần lưỡi cắt của trâm vào một dụng cụ có tên là “trục lắp trâm” (File Adapter). Trục lắp trâm sẽ được gắn vào tay khoan của máy siêu âm và phần chuck được gắn với trâm tay có độ thuôn 0.02.

– Các trâm tay nhỏ bằng thép không gỉ có thể được uốn cong trước, nếu được chỉ định, lách vào khoảng trống và sử dụng với thao tác rung siêu âm ở mức công suất thấp, cố gắng loại bỏ đoạn gãy.

 

 

Hình 105. Trục lắp cho mũi siêu âm nội nha được sản xuất dưới nhiều tên gọi và nhãn hiệu khác nhau, và được thiết kế để hoạt động trên hầu hết các nhãn hiệu máy cạo vôi siêu âm nha khoa. Trục lắp này sử dụng được với trâm SS hoặc NiTi có kích thước từ 15 đến 40 sau khi đã tháo đi phần tay cầm.

 

 

Hình 10.6 Sau khi tháo tay cầm của một trâm nội nha thì có thể gắn vào trục lắp để sử dụng với máy siêu âm.

 

 

Lần thử thứ ba

– Nếu rung siêu âm không làm bật được dụng cụ gãy thì khả năng cuối cùng để lấy đoạn gãy ra sẽ là phương pháp Microtube. Có nhiều kỹ thuật microtube trên thị trường có thể được sử dụng để loại bỏ trâm gãy. Bài viết chỉ trình bày một kĩ thuật microtube dưới đây:

 

           Hệ thống lấy trâm gãy (FRS)

– Hệ thống lấy trâm gãy (FRS, Dentsply Sirona) cung cấp 3 đầu ống (microtube) có kích thước khác nhau và các vít chêm có thể tháo rời, để kẹp và loại bỏ các vật cản trong ống tủy bằng cơ học, chẳng hạn như côn bạc, dụng cụ trám bít hoặc đoạn trâm gãy. Các microtube được nhận diện dễ dàng bởi phần cán màu đen, đỏ và vàng tương ứng với đường kính ngoài lần lượt là 1mm, 0.8 mm và 0.6 mm.

 

 

 

Hệ thống lấy trâm gãy (Dentsply Tulsa Dental, Tulsa, OK) có 3 kích cỡ. Microtube màu đen có đường kính ngoài 1 mm và được sử dụng ở 1/3 trên của các ống tủy lớn. Màu đỏ và màu vàng (tương ứng là 0,80 và 0,60 mm) được sử dụng trong các ống tủy hẹp hơn.

 

 

– Khi phần đầu của đoạn trâm gãy đã lộ ra khoảng 2-3 mm, bất kể phần chóp của nó có nằm ở đoạn cong của ống tủy hay không, chọn một microtube có kích thước phù hợp. Microtube đã chọn được đưa vào ống tủy với phần vát hướng vào thành ngoài của ống tủy để “múc” và hướng dẫn phần đầu của trâm gãy đi vào lòng ống (lumen) bên trong của microtube.

 

Hình 8. Khi siêu âm không hiệu quả, đầu vát của ống micro này được thiết kế để “vớt” phần đầu của trâm gãy vào trong.

 

– Sau khi ổn định, microtube được quay 180 độ để đầu của mảnh gãy nằm gần lỗ mặt bên của microtube. Chêm vặn có mã màu tương ứng được chọn, trượt bên trong dọc theo chiều dài của microtube, vặn tay cầm theo ngược chiều kim đồng hồ để siết chặt tay cầm, chêm vào để dịch chuyển đầu đoạn gãy qua lỗ bên của microtube.

 

 

Trên lâm sàng, microtube và chêm vặn được xoay ngược chiều kim đồng hồ để đưa trâm gãy ra khỏi ống tủy.

 

Hình 9. A. X quang trước điều trị cho thấy đoạn trâm gãy ở 1/3 chóp của răng nanh. B. FRS đã tham gia thành công và đang nâng đoạn trâm gãy ra khỏi ống tủy. C, Xquang sau điều trị cho thấy một hệ thống ống tủy đã được trám bít tốt.

 

– Lưu ý rằng nếu một dụng cụ gãy không thể lách qua hoặc loại bỏ được, làm tắc nghẽn ống tủy thì phần chóp của ống tủy sẽ không được điều trị. Phần phía trên được sửa soạn và tạo đường vào thẳng; sau khi bơm rửa, ống tủy sẽ được làm khô và trám bít. Thân răng phải được phục hồi kín để đảm bảo hệ thống ống tủy được bịt kín tốt và răng phải được theo dõi về sau.

– Nếu áp dụng các kỹ thuật vô trùng nghiêm ngặt và duy trì môi trường làm việc vô trùng thì kết quả có thể sẽ thuận lợi.

 

Hình 107. (a) Sau khi cố gắng lách qua đoạn trâm gãy không thành công, phần trên ống tủy đã được sửa soạn, làm sạch và trám bít. (b) X quang 6 tháng sau điều trị cho thấy sự lành thương. Răng được phục hồi với chốt và cùi giả. (c) X quang 3 năm sau điều trị.

 

Kết luận
Cách tiếp cận quan trọng nhất là xử trí không phẫu thuật đối với gãy dụng cụ, bằng cách lấy đoạn gãy ra. Nếu không thành công thì việc lách qua (bypass) đoạn gãy sẽ được thực hiện. Nếu cũng không thể bypass thì nên tiến hành sửa soạn và trám bít ống tủy cho đến trên đoạn gãy. Điều trị phẫu thuật được thực hiện như biện pháp cuối cùng khi các phương pháp bảo tồn thất bại, răng có bệnh lý hoặc triệu chứng sau khi điều trị. Điều trị phẫu thuật sẽ là lựa chọn đầu tiên nếu răng có bệnh lý quanh chóp và dụng cụ gãy ngay ở những bước sửa soạn ống tủy đầu tiên.

 

Nguồn: Easy Endodontics for Clinical Practice with Color Atlas – Mostafa Ali.

Broken Instrument Removal The Endodontic Challenge – Clifford J. Ruddle.