May 1, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P1 – Vận động và vị trí của hàm dưới

Phần I. Các vận động và định nghĩa các vận động của hàm dưới

Chương 1 mô tả các vận động và vị trí của hàm dưới. Kiến thức cơ bản này là cần thiết cho bác sĩ lâm sàng, dù chỉ thay đổi khớp cắn của một răng hay cả một cung răng. Những thay đổi trong khớp cắn được thực hiện bởi chỉnh nha hoặc phục hình nha khoa cần phải hài hòa với các chuyển động này để giảm thiểu sự thay đổi thích nghi từ hệ thống nhai của bệnh nhân.

Chương 2 mô tả việc sử dụng giá khớp (articulator) để mô phỏng các vận động của hàm dưới nhằm phục vụ cho chẩn đoán khớp cắn và chế tác phục hình. Việc sử dụng một loại giá khớp phù hợp rất quan trọng, vì nếu không thì thông tin chẩn đoán sẽ không đầy đủ khi chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng. Sử dụng giá khớp để làm phục hình giúp giảm lượng điều chỉnh tại ghế, làm cho phục hình hài hòa và không cản trở vận động của hàm dưới.

 

Chương 1. Các vận động và vị trí của hàm dưới

Nghiên cứu khớp cắn liên quan đến toàn bộ hệ thống nhai, bao gồm không chỉ tương quan tĩnh của răng mà còn cả sự tương tác chức năng giữa răng, mô nha chu, xương hàm, khớp thái dương hàm (TMJ), cơ và hệ thần kinh. Hiểu biết về tầm quan trọng của tất cả các thành phần trong hệ thống nhai trong chức năng bình thường, thói quen xấu và rối loạn là điều rất cần thiết.

Vận động chức năng (functional movement) của hàm dưới xảy ra trong quá trình nói, nhai và nuốt, diễn ra trong giới hạn ba chiều gọi là vị trí biên. Vị trí biên này được quyết định bởi hình thái của khớp thái dương hàm (TMJ) và hệ thần kinh – cơ liên quan. Các vận động chức năng bình thường có thể thường xuyên chạm tới các vị trí biên này, miễn là không có sự cản trở bởi tiếp xúc răng. Vị trí và vận động biên đã được chứng minh là tương đối ổn định, có thể lặp lại trong thời gian dài và do đó cung cấp những điểm tham chiếu hữu ích trong chẩn đoán và điều trị.

Vận động cận chức năng (vận động thói quen xấu) (parafunctional movement) của hàm dưới thường mang tính thói quen, bao gồm:

    • Tiếp xúc răng – răng (nghiến răng, siết chặt răng)
    • Răng – mô mềm (cắn môi, mút ngón tay)
    • Mô mềm – mô mềm (nuốt bất thường, đẩy hàm)
    • Vật ngoại lai – răng (cắn bút chì).

Vận động loạn năng (dysfunctional movement) của hàm dưới là những chuyển động bất thường hoặc bị suy giảm, gây ra bởi:

    • Rối loạn đĩa khớp của khớp thái dương hàm, hoặc
    • Tình trạng tăng hoạt động (hyperactivity) của cơ nhai.

 

Các vận động biên trong mặt phẳng dọc giữa

 

Hình 1. Posselt đã mô tả “dạng hình bao” của các vận động biên trong mặt phẳng dọc giữa, có thể được biểu diễn ở mức răng cửa, răng cối và mức lồi cầu (hình 1a). Hình 1b biểu diễn đường đi của vận động khi không có sự giới hạn bởi tiếp xúc răng. Hình 1c biểu diễn khi các răng trước có tiếp xúc, ảnh hưởng đến các vận động biên – những vận động này được vẽ từ đỉnh rìa cắn răng cửa giữa hàm dưới. RP: Vị trí luisau (Retruded position), RA: Trục lui sau, hay còn gọi là trục bản lề (Retruded axis), RCP: Vị trí tiếp xúc lui sau (Retruded contact position), ICP: Vị trí lồng múi tối đa (Intercuspal position), MP: Đưa hàm ra trước tối đa (Maximum protrusion), MO: Há miệng tối đa (Maximum opening).

 

 

Hình 2. Vị trí lồng múi tối đa (ICP), hay khớp cắn trung tâm, được định nghĩa là vị trí của hàm dưới mà tại đó các răng có sự lồng múi tối đa. Đây là vị trí được quyết định bởi răng, thường là tương quan được tái lập chính xác nhất giữa hàm dưới và hàm trên. Vị trí này có thể thay đổi khi hình thể hoặc vị trí răng bị thay đổi, hoặc khi mất răng.

 

Hình 3. Khi không thực hiện chức năng, hàm dưới thường ở tư thế nghỉ, khi đó hàm dưới mở cách 2–4 mm so với vị trí khớp cắn trung tâm (ICP). Tư thế nghỉ được sử dụng lâm sàng như một điểm tham chiếu để xác định kích thước dọc (KTD) khi nghỉ (VDR), được định nghĩa là khoảng cách đo theo đường giữa trên khuôn mặt, giữa hai điểm mốc trên và dưới miệng khi hàm dưới ở tư thế nghỉ. Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng, tư thế nghỉ này thường không ổn định, do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tư thế cơ thể và hoạt động cơ. KTD cắn khớp (VDO) là khoảng cách đo trên mặt khi hàm ở vị trí khớp cắn trung tâm (ICP). Khoảng cách giữa VDR và VDO được gọi là khoảng tự do, hay khoảng gian khớp cắn (interocclusal distance).

 

 

Hình 4. Hàm dưới có thể xoay quanh một trục ngang gọi là trục lui sau, hay trục bản lề, cho phép mở khoảng cắn rìa khoảng 25 mm khi lồi cầu ở vị trí lui sau (RP, hay còn gọi là tương quan tâm – centric relation). Đây được mô tả là vị trí cao nhất của lồi cầu trong hõm khớp khi các thành phần khớp và hệ thống thần kinh – cơ liên quan ở trạng thái khỏe mạnh.

 

 

Hình 5. Khi hàm dưới đóng lại trên trục bản lề, vị trí khi tiếp xúc răng đầu tiên được gọi là vị trí tiếp xúc lui sau (retruded contact position – RCP). Khoảng 90% dân số có sự sai biệt giữa vị trí tiếp xúc lui sau và vị trí lồng múi tối đa (intercuspal position – ICP). Khi vị trí lồng múi tối đa không ổn định hoặc bệnh nhân mất răng toàn bộ thì tương quan hàm dưới – hàm trên duy nhất có thể tái lập một cách tương đối chính xác là vị trí lui sau.

 

 

Hình 6. Khi hàm dưới tiếp tục mở vượt quá trục bản lề thì lồi cầu sẽ trượt ra trước và xuống dưới đến vị trí há miệng tối đa.

 

 

Hình 7. Khi các răng trước tiếp xúc ở vị trí khớp cắn trung tâm, đường đi của các vận động đưa hàm ra trước và sang bên được quyết định bởi các mặt tiếp xúc của chúng, được gọi là hướng dẫn răng trước (anterior guidance). Khi không có tiếp xúc răng trước ở vị trí khớp cắn trung tâm, đường đi của vận động sẽ chịu ảnh hưởng bởi mặt nhai các răng sau và nếu không có tiếp xúc răng, khớp thái dương hàm sẽ là yếu tố quyết định duy nhất.

 

Vận động biên trong mặt phẳng đứng ngang

Hình 8. Trong tương quan bình thường, các múi trong (múi khẩu cái) của răng hàm trên và múi ngoài của răng hàm dưới được gọi là múi chịu lực. Những múi này chủ yếu có vai trò duy trì sự ổn định của vị trí khớp cắn trung tâm. Vì vậy múi không chịu lực sẽ là múi ngoài của răng hàm trên và múi trong của răng hàm dưới.

 

Hình 9. Khi hàm dưới vận động trượt sang bên phải, lồi cầu bên phải (lồi cầu ở phía hàm di chuyển tới) được gọi là lồi cầu bên làm việc. Lồi cầu bên trái được gọi là lồi cầu bên không làm việc, hay bên thăng bằng.

 

 

Trong vận động sang bên, lồi cầu bên làm việc có thể chỉ xoay, hoặc xoay đồng thời di chuyển sang bên, cũng có thể di chuyển lên trên hoặc xuống dưới. Vận động sang bên này được gọi là vận động Bennett, được định nghĩa là sự dịch chuyển toàn bộ của hàm dưới về phía bên làm việc trong quá trình trượt sang bên.

Vận động Bennett được cho là cần thiết để cho phép sự xoay của lồi cầu bên làm việc, do ảnh hưởng hạn chế của dây chằng khớp thái dương hàm ở bên làm việc, của thành hõm khớp và hình dạng lệch tâm của lồi cầu. Thời điểm và mức độ vận động Bennett thay đổi: nếu thành phần sang bên xảy ra sớm trong vận động, nó được gọi là trượt sang bên tức thì (sớm). Nếu thành phần sang bên diễn tiến từ từ thì gọi là trượt sang bên từ từ.

Nếu trong vận động sang bên chỉ có tiếp xúc giữa răng nanh ở bên làm việc thì được gọi là hướng dẫn răng nanh (canine guidance).

 

Hình 10. Nếu có tiếp xúc ở bên làm việc từ hai răng trở lên, thì hướng dẫn bên làm việc được gọi là hướng dẫn chức năng nhóm (group function). Các tiếp xúc nhiều răng trong hướng dẫn nhóm có thể bao gồm cả răng trước và răng sau.

 

 

Hình 11. Bất kỳ sự tiếp xúc nào giữa các răng sau ở bên không làm việc, mà tách rời các răng tạo sự hướng dẫn ở bên làm việc thì sẽ làm lệch đường đi của chuyển động sang bên. Những tiếp xúc răng này được gọi là cản trở bên không làm việc.

 

 

Hình 12. Tuy nhiên, nếu sự tiếp xúc răng xảy ra trong khi đưa hàm sang bên ở cả bên làm việc và bên không làm việc, thì những tiếp xúc này được gọi là tiếp xúc không làm việc (non-working contact).

 

Cần phân biệt sự khác nhau giữa cản trở (interference) và tiếp xúc (contact): Cản trở (interference) sẽ làm lệch đường đi của vận động hàm dưới. Tiếp xúc (contact) thì có thể không làm thay đổi đường đi của vận động.

 

Vận động biên của hàm dưới trong mặt phẳng ngang

Hình 13. Nếu lồi cầu bên làm việc dịch chuyển sang bên thì nó cũng có thể di chuyển ra trước hoặc ra sau. Lồi cầu bên không làm việc di chuyển xuống dưới, ra trước và vào trong. Góc tạo thành giữa chuyển động ra trước và vào trong của lồi cầu bên không làm việc và đường di chuyển thẳng ra trước được gọi là góc Bennett (hình 13a). Các vận động biên của hàm dưới trong mặt phẳng ngang thường được mô tả là cung gothic (hình 13b) khi quan sát từ rìa cắn.

 

Kiểm soát vận động của hàm dưới

Kiểu hình vận động của hàm dưới không chỉ được quyết định bởi giới hạn giải phẫu của khớp thái dương hàm, mà còn bởi hoạt động sinh lý của cơ khi chúng di chuyển hàm dưới trong phạm vi và đến giới hạn biên của vận động.

Các thụ thể cảm giác trong niêm mạc, mô nha chu, cơ và bao khớp thái dương hàm truyền xung thần kinh cảm giác thông qua các đường hướng tâm đến hệ thần kinh trung ương. Cảm giác bản thể từ các thụ thể dây chằng nha chu được dẫn truyền đến nhân cầu não giữa, và thông tin cảm giác được chuyển đến nhân cảm giác của thần kinh sinh ba.

Phản xạ vận động thông qua nhân vận động và các đường ly tâm của thần kinh sinh ba dẫn đến các cơ nhai có thể là đáp ứng đối với thông tin cảm giác này. Tuy nhiên, sự điều hòa từ các trung tâm cao hơn của não và  kích thích ngoại vi cũng có thể ảnh hưởng đến đáp ứng của cơ.

Căng thẳng hành vi có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cơ nhai, thường gây ra sự tăng trương lực cơ. Bất kỳ tiếp xúc răng nào cản trở sự hài hòa sinh lý của chức năng cơ và vận động hàm dưới đều có thể gây ra tác động tương tự. Sự gia tăng hoạt động cơ này có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau bao gồm: tăng mòn răng, gãy phục hình hoặc gãy răng, tăng độ lung lay răng và các triệu chứng rối loạn vận động hàm dưới.

Việc có hay không có sự hiện diện của các dấu hiệu bệnh lý khớp cắn phụ thuộc vào khả năng thích nghi của các thành phần trong hệ thống nhai của từng cá nhân. Khả năng thích nghi này của khớp thái dương hàm, cơ nhai, dây chằng nha chu và răng có thể bị suy giảm bởi bệnh thoái hóa khớp, căng thẳng, mất bám nha chu và phục hình yếu kém.

 

Xem tiếp phần 2 tại đây.

Nguồn: A Colour Atlas of Occlusion and Malocclusion – A.P.Howat, N.J.Capp, N.V.J.Barrett.

Xin chào. Hãy nhắn tin cho mình nhé!