Thăm khám khớp cắn chi tiết nên bao gồm các yếu tố sau:
(1) Vị trí khớp cắn trung tâm (lồng múi tối đa) (ICP) và sự ổn định khớp cắn phía sau. (2) Dấu hiệu và triệu chứng của mất ổn định phía sau. (3) Các nguyên nhân khác gây mất mô răng. (4) Sai biệt giữa vị trí tiếp xúc lui sau (RCP) và khớp cắn trung tâm (ICP). (5) Hướng dẫn răng trước. (6) Đánh giá kích thước dọc. (7) Các bất thường trên mặt phẳng nhai.
(1) Vị trí lồng múi trung tâm và sự ổn định khớp cắn phía sau
(2) Dấu hiệu và triệu chứng của mất ổn định khớp cắn phía sau
Sự ổn định phía sau có thể mất đi do mất răng hoặc do phục hình không khôi phục được tiếp xúc ổn định ở bệnh nhân không thể thích nghi.
Việc chẩn đoán mất ổn định dựa trên sự xuất hiện của một hoặc nhiều dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng cho thấy cần tái lập khớp cắn, tạo một ICP mới gần với vị trí lui sau (RCP) nhất có thể.
Tương quan mới này phải được xác lập trước khi thực hiện phục hình. Nếu vẫn tiến hành phục hình theo hướng bảo tồn trong những tình huống này thì điều trị có thể thất bại do lực nhai quá mức tạo ra bởi một ICP không ổn định.
Vị trí lui sau được sử dụng vì đây là tương quan hàm dưới–hàm trên duy nhất có thể tái lập một cách tương đối và đã được chứng minh là trong giới hạn sinh lý.
Mất ổn định khớp cắn phía sau có thể dẫn đến:
Tăng mòn răng.
Gãy vỡ răng hoặc phục hình.
Răng lung lay quá mức và trồi/lệch.
Rối loạn chức năng hàm dưới.
Hình 64, 65. Bệnh nhân có răng trước mòn nặng do khớp cắn phía sau không ổn định sau khi mất hầu hết các răng sau.
Hình 66, 67. Việc thực hiện sứ mặt nhai đối kháng với răng tự nhiên thường gây tăng mòn răng. Điều này đặc biệt đúng ở những bề mặt cọ sát và ở bệnh nhân có thói quen nghiến răng. Bệnh nhân này cho thấy mòn khu trú nhưng chưa mất ổn định tổng thể. Tuy nhiên, sự ổn định có thể mất đi nếu nhiều răng trong một vùng đều được phục hồi bằng cách này.
Hình 68. Răng nhựa (acrylic) trong hàm giả bán phần sẽ bị mòn, mất tiếp xúc ICP và không còn nâng đỡ khớp cắn phía sau. Điều này có thể dẫn đến mất tiếp xúc ICP hoặc gây trồi răng đối kháng nhằm duy trì tiếp xúc khi răng nhựa bị mòn.
Khớp cắn phía sau không ổn định dẫn đến lực nhai quá mức tác động lên cả răng trước và răng sau, do đó có thể gây hỏng phục hình, đặc biệt ở bệnh nhân có thói quen cận chức năng. Nếu phục hình bị gãy vỡ do khớp cắn không ổn định thì việc phục hồi lại mà không tái lập khớp cắn và tạo ICP ổn định sẽ dẫn đến thất bại lặp lại.
Hình 69. Phục hình tạo hình kém gây ra tiếp xúc ICP không ổn định, dẫn đến di chuyển và nghiêng răng. Nếu nhiều răng sau bị ảnh hưởng thì sự ổn định sẽ mất đi và gây ra triệu chứng lâm sàng. Nó cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện cản trở phía bên.
Hình 70, 71. Miếng trám amalgam lớn này là một trong số nhiều phục hình trong miệng bệnh nhân đã bị tạo hình thiếu, dẫn đến răng đối kháng nghiêng và trồi, gây mất ổn định và gãy phục hình.
Hình 72, 73. Mất ổn định khớp cắn phía sau, tạo thành thành phần lực hướng ra trước kết hợp với viêm nha chu, có thể dẫn đến hiện tượng răng di chuyển ra trước. Bệnh nhân này đến khám với than phiền khe thưa giữa hai răng cửa giữa hàm trên ngày càng rộng. Khám lâm sàng cho thấy khớp cắn phía sau không ổn định và có bệnh nha chu quanh các răng cửa hàm trên.
Mất ổn định khớp cắn phía sau cũng có thể dẫn đến rối loạn chức năng hàm dưới ở những bệnh nhân nhạy cảm. Điều này thường xảy ra khi khớp thái dương hàm (TMJ) và hệ thần kinh–cơ liên quan không thể thích nghi với những thay đổi khớp cắn.
Trường hợp này phổ biến nhất khi thay đổi khớp cắn xảy ra đột ngột hoặc quá nhanh, thường do làm phục hình gây cản trở, hoặc ở những bệnh nhân có khả năng thích nghi kém — hay gặp trong giai đoạn stress với tình trạng tăng hoạt động cơ.
Hình 74. Bệnh nhân này bị rối loạn chức năng cấp tính chỉ sau hai tuần làm phục hồi composite. Việc sử dụng composite để phục hồi mặt nhai trên diện rộng là không được khuyến khích, vì khó thao tác và khó tạo hình đúng giải phẫu, cũng như duy trì các tiếp xúc khớp cắn chuẩn. Composite còn là vật liệu có tính mài mòn, có thể làm mòn răng đối kháng. Bệnh nhân này mất ổn định khớp cắn phía sau chỉ trong vòng hai ngày sau khi toàn bộ miếng trám amalgam được thay bằng phục hồi composite tạo hình kém. Ngoài thay đổi đáng kể hình thái mặt nhai, vị trí lồi cầu cũng bị thay đổi, làm ICP càng thêm mất ổn định.
Hình 75. Bệnh nhân này xuất hiện rối loạn chức năng sau một tháng kể từ khi gắn phục hình sứ–kim loại tạo hình kém. Giải phẫu mặt nhai không chuẩn đã ngăn cản việc tái lập tiếp xúc ICP ổn định; chỉ có răng 21, 22, 23 tiếp xúc ở ICP. Lồi cầu và cơ không thể thích nghi để đưa các răng khác tiếp xúc.
Hình 76. Các mão bằng vàng có giải phẫu mặt nhai kém, không mang lại sự ổn định khớp cắn; gây ra thay đổi vị trí lồi cầu và xuất hiện triệu chứng rối loạn chức năng. Các tiếp xúc ICP ổn định đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì vị trí lồi cầu ổn định.
Hình 77, 78. Các yếu tố do điều trị gây ra khác bao gồm việc sử dụng kéo dài máng nhai. Bệnh nhân này đã đeo máng nhai trong 9 tháng, gây lún răng sau và trồi răng trước. Khi bỏ máng, không còn tiếp xúc phía sau và tình trạng rối loạn chức năng hàm dưới — vốn được chỉ định máng để điều trị — nay càng nghiêm trọng hơn.
(3) Nguyên nhân khác gây mất mô răng
Hình 79. Thói quen nghiến răng hoặc cắn chặt răng thường liên quan đến stress và dẫn đến mòn răng tăng ở những răng bị ảnh hưởng. Răng thường có diện mòn phẳng, khớp chính xác với răng đối kháng ở vị trí hàm dưới khi nghiến.
Có một số bằng chứng cho thấy nghiến răng có thể trầm trọng hơn do các cản trở khớp cắn làm tăng hoạt động cơ. Tuy nhiên, không thực tế khi nghĩ rằng điều chỉnh khớp cắn có thể chữa khỏi thói quen này trong khi yếu tố stress vẫn chiếm ưu thế. Người nghiến răng có thể tạo ra lực nhai rất lớn và giữ răng tiếp xúc trong thời gian dài hơn, gây áp lực thêm lên mọi loại phục hình.
Hình 80. Mòn răng do axit, thường từ chế độ ăn hoặc do trào ngược dạ dày, có thể dẫn đến mất men và ngà răng diện rộng. Điều này có thể gây mất ổn định khớp cắn phía sau nếu nhiều răng bị ảnh hưởng nặng. Các bề mặt bị ăn mòn thường có dạng lõm “đáy chén” đặc trưng, khác với diện mòn phẳng ở bệnh nhân nghiến răng. Xác định nguyên nhân rất quan trọng để ngăn tình trạng tiến triển nặng thêm.
(4) Sự sai lệch giữa RCP và ICP
Cần kiểm tra sự sai lệch giữa RCP (retruded contact position – vị trí tiếp xúc lui sau) và ICP (intercuspal position – vị trí lồng múi tối đa) vì các lý do sau:
Các phục hình đơn giản không nên làm thay đổi đường trượt RCP–ICP. Việc thay đổi khớp cắn ở bệnh nhân nhạy cảm theo cách này có thể gây tăng hoạt động cơ, dẫn đến nghiến răng, cắn chặt, vấn đề TMJ và cơ. Hậu quả tiếp theo là thất bại cơ học của phục hình.
Đường trượt này cần được xác định và loại bỏ khi tái lập khớp cắn, trong các tình huống:
Cần phục hồi sự ổn định khớp cắn phía sau bằng cách điều chỉnh khớp cắn hoặc phục hồi răng.
Khi điều trị rối loạn chức năng hàm dưới.
Trước khi thực hiện phục hình nhiều đơn vị.
Đưa hàm dưới về vị trí lùi sau (RCP) sẽ tạo khoảng hở cần thiết cho việc làm phục hình.
Hình 81. Một trụ cầu tiềm năng ở phía xa thường là vị trí tiếp xúc lui sau, đặc biệt khi đó là răng cối lớn hàm dưới nghiêng gần. Cần phải loại bỏ bất kỳ tiếp xúc lui sau hay tiếp xúc bên không làm việc nào hiện diện và kiểm tra lại khớp cắn lồng múi tối đa (ICP) để đảm bảo ổn định trước khi bắt đầu mài răng.
This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.
🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.
Bài viết liên quan
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P4 – Đánh giá khớp cắn trong phục hình
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P3 – Giá khớp
Ứng dụng cắn khớp trong phục hình lâm sàng – P2- Giá khớp