June 10, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Giải phẫu ống tủy R6 hàm trên và những lưu ý khi điều trị tủy

Hình dạng xoang tủy:

Giới hạn phía gần là đường nối các múi “gần ngoài” và “gần trong” và giới hạn phía xa là gờ chéo. Điểm bắt đầu xuyên qua của mũi khoan là ở rãnh trung tâm, giữa giới hạn phía gần và phía xa (mũi khoan hướng về phía vòm miệng).

Gờ chéo hầu như còn nguyên vẹn (vì buồng tủy nằm từ phía gần đến gờ chéo).

 

Hình 150. Góc nghiêng mũi khoan khi mở tủy R6 hàm trên là hướng về phía ống tủy lớn nhất (ống trong).

 

Đường viền ngoài có dạng hình tam giác (nếu có 3 ống tủy) hoặc hình thoi (nếu có 4 ống tủy) và nằm ở nửa phía gần của thân răng. Tam giác có đáy ở mặt ngoài và đỉnh ở phía khẩu cái, góc gần ngoài nhọn, góc ngoài xa tù và góc trong vuông.

 

Hình 151. Hình dạng xoang tủy của R6 hàm trên.

 

Răng 6 hàm trên có buồng tủy lớn nhất trong tất cả các răng.

Chiều dài trung bình là 21 mm.

 

Cấu hình tủy răng

Răng 6 hàm trên thường có 3 chân răng: chân trong, chân xa ngoài và chân gần ngoài.

Mỗi chân răng có một ống tủy được đặt tên theo tên của nó ngoại trừ chân răng gần ngoài rất rộng theo hướng ngoài trong nên thông thường (trong 95% trường hợp) có chứa ống tủy thứ hai nhỏ (thường được gọi là ống tủy MB2).

 

Hình 152. Xoang tủy của R6 hàm trên cho thấy 4 ống tủy.

 

Ống tủy trong:

  • Miệng “ống tủy trong” lớn nhất và nằm hơi xa so với đỉnh múi gần trong.
  • Ống trong dài nhất và có đường kính lớn nhất.
  • Ống trong cong ở 1/3 chóp theo hướng ngoài trong nên (56% trường hợp) có thể không nhìn thấy được trên X quang, dẫn đến sai sót trong điều trị. Thủng chân răng trong thường xảy ra do cho rằng ống tủy này thẳng (kinh nghiệm lâm sàng xác nhận rằng chân răng này luôn được coi là cong, theo chiều ngoài trong).
  • Ống trong thường có ống tủy bên, đặc biệt ở 1/3 chóp.

 

Hình 153. A. Hình chụp R6 hàm trên bên phải, nhìn từ phía gần. Lưu ý chân trong cong theo chiều ngoài-trong. B. X quang sau điều trị tủy R6 hàm trên, lưu ý độ cong của chân trong C. R6 hàm trên với ống trong có ống tủy bên lớn hướng về phía xa.

 

  • Cấu hình ống tủy phổ biến nhất ở chân răng trong là Vertucci Loại I (ống tủy đơn từ miệng đến chóp).

 

Phân loại Vertucci loại I (một ống tủy từ miệng đến chóp).

 

 

  • Do chân răng của R6 hàm trên (đặc biệt là chân trong) thường nằm gần xoang hàm nên viêm tủy ở răng này có thể dẫn đến viêm xoang.

 

Ống tủy gần ngoài “chính” (ống MB1):

  • Lỗ ống tủy gần ngoài (ống MB1) nằm hơi xa so với đỉnh múi gần ngoài.
  • Ống tủy gần ngoài là ống hẹp nhất trong 3 ống tủy. Chân gần ngoài thường cong về phía xa. Mức độ cong thay đổi tùy theo từng trường hợp.

 

Hình 154. Lưu ý độ cong đáng kể của ống tủy gần ngoài (ống MB).

 

Hình 160. Mặt cắt ngang chân gần ngoài của R6 hàm trên: chân răng lõm ở mặt xa, cả hai ống tủy đều khá gần với chỗ phân nhánh và chân răng mỏng dần về phía trong.

 

 

Ống tủy xa ngoài:

  • Lỗ ống tủy xa nằm xa và hơi nghiêng về phía trong so với ống tủy gần ngoài chính và thẳng hàng với rãnh ngoài.
  • Lỗ ống tủy xa ngoài không liên quan trực tiếp đến múi xa ngoài mà bị dịch chuyển về phía trong và phía gần nhiều hơn.
  • Chân xa ngoài thường khá thẳng nhưng có thể hơi cong về phía gần hoặc phía xa.
  • Cấu hình ống tủy phổ biến nhất ở chân xa ngoài là Vertucci loại I (ống tủy đơn từ miệng đến chóp).

 

Ống tủy MB2:

  • Miệng ống tủy MB2 nằm cách ống tủy MB1 từ 1 đến 3 mm và hơi về phía gần của “đường nối từ ống tủy gần ngoài đến ống trong”.
  • Các bác sĩ phải luôn luôn xem xét sự hiện diện của hai ống tủy ở chân gần ngoài (ống MB1 và MB2) khi điều trị nội nha ở R6 hàm trên.

 

Hình 159. Vị trí của ống tủy MB2.

 

  • MB2 có thể rất khó tìm thấy và sửa soạn. Trong 1-3 mm đầu tiên, ống tủy có góc nhọn theo hướng gần, và đây là lý do tại sao đôi khi đầu trâm không tiến về phía chóp được quá vài mm và dừng lại ở thành gần. Vì vậy, trước khi sửa soạn ống tủy này thì luôn cần phải loại bỏ lớp ngà răng đang che miệng ống tủy khỏi thành gần của xoang tủy để có thể tiếp cận ống tủy theo đường thẳng. Việc này có thể được thực hiện dễ dàng, an toàn và hiệu quả bằng dụng cụ siêu âm và các mũi chuyên dụng như CPR và ProUltra.

 

Hình 158. Ống tủy MB2 khi nó rời khỏi buồng tủy. MB2 có thể được phát hiện bằng thám trâm, thường phải di chuyển về phía bên trước khi hướng thẳng về phía chóp.

 

 

  • Có một số yếu tố khi sử dụng kết hợp sẽ làm tăng đáng kể khả năng nhận dạng ống tủy MB2, bao gồm:

– Trước hết phải tin chắc rằng MB2 luôn hiện diện!

– Sử dụng kính phóng đại, bắt đầu từ kính loop và kính phóng đại (2,5x – 4x) cho đến kính hiển vi phẫu thuật.

 

 

Hình 155. Sử dụng thiết bị phóng đại giúp quan sát rõ hơn giải phẫu ống tủy.

 

– Chỉ bắt đầu tìm kiếm MB2 sau khi MB1 đã được làm sạch và sửa soạn hoàn toàn, sẵn sàng để trám bít.

– Sử dụng thiết bị siêu âm cùng với các đầu tip được thiết kế đặc biệt (CPR, ProUltra) để loại bỏ lớp ngà che phủ miệng ống tủy bên dưới.

 

Hình 156. A, Hình chụp ở độ phóng đại 12x cho thấy miệng ống tủy gần ngoài và rãnh liên quan. Thềm ngà thường che khuất lỗ ống tủy bên dưới của ống MB2. B, Sau khi thiết lập đường vào thẳng, đầu siêu âm được lựa chọn thích hợp sẽ loại bỏ phần ngà răng này một cách dễ dàng, nhanh chóng và an toàn và để lộ miệng ống tủy MB2.

 

– Bơm đầy dung dịch Natri hypoclorit 5% (NaOCl) vào buồng tủy để tiến hành thử nghiệm “sâm panh” hoặc thử nghiệm “bong bóng”.

 

Hình 157. Natri hypoclorit (NaOCI) trong buồng tủy có thể giúp xác định vị trí miệng ống tủy bị vôi hóa. Những bong bóng nhỏ xuất hiện cho biết vị trí của miệng ống tủy, tuy nhiên để quan sát tốt nhất thì phải thông qua kính phóng đại.

 

– Bơm rửa bằng EDTA 17% để loại bỏ lớp mùn.

– Chụp nhiều phim X quang chếch (đặc biệt là phim chếch gần) cả trước và trong quá trình điều trị: chân răng càng rộng thì khả năng có ống tủy MB2 càng cao.

– Hai ống tủy ở chân gần (MB1 và MB2) không phải lúc nào cũng có 2 lỗ chóp riêng biệt mà thường nhập lại với nhau trong một lỗ chóp duy nhất.

 

Hình 161. Ống MB2 nối với ống MB1 ở một góc 90°. Trong những trường hợp như vậy, việc sửa soạn cùng một chiều dài làm việc từ ống MB2 là rất nguy hiểm và vô ích.

 

 

Hình 162. R6 hàm trên với các ống tủy MB1 và MB2 nối với nhau tại một lỗ chóp chung.

 

 

Hình 163. R6 hàm trên có ống MB2 với lỗ chóp riêng biệt.

 

 

Hình 164. Không tìm thấy ống tủy Mb2 dù đã lần theo rãnh gần.

 

 

– Cấu hình ống tuỷ phổ biến nhất ở chân gần ngoài:

Vertucci loại II – 30% (hai ống tủy có một lỗ chóp chung).

 

Vertucci loại II:  Hai ống tủy rời khỏi buồng tủy và hợp nhất để tạo thành một ống tủy duy nhất.

 

 

Vertucci loại IV – 29% (hai ống tủy có 2 lỗ chóp riêng biệt).

 

Vertucci loại IV: Hai ống tủy riêng biệt.

 

Vertucci loại I – 18% (ống tủy đơn từ miệng tới chóp).

 

Lưu ý rằng cấu hình sau đây cũng có thể xảy ra ở R6 trên nhưng rất hiếm:

  • Chân răng gần ngoài có thể có 3 ống tủy thay vì 2 ống tủy thông thường (MB1, MB2 và MB3).

 

Hình 165. R6 hàm trên có ba ống tủy ở chân gần ngoài.

 

  • Chân răng xa ngoài có thể có hai ống tủy thay vì một ống tủy (DB1 và DB2).

 

Hình 167. R6 hàm trên có 5 ống tủy, trong đó có 2 ống tủy ở chân xa ngoài.

 

 

  • Chân răng trong có thể có hai ống tủy thay vì một ống tủy (ống trong và ống xa trong).

 

Hình 169. R6 hàm trên có 2 chân trong và 2 ống trong riêng biệt.

 

  • Ngoài ra, răng 6 hàm trên có thể chỉ có 2 ống tủy (ống tủy ngoài và ống tủy trong).

 

Hình 170. R6 hàm trên có hai ống tủy, một ở ngoài và một ở trong.

 

 

Hình 171. A, Xquang R6 trước điều trị cho thấy sâu răng ở phía xa; B-C, Chỉ có thể phát hiện được một lỗ ống tủy ngoài và một lỗ ống tủy trong dưới trường thị giác của kính hiển vi nha khoa; D, Phim X quang thử côn. E, X quang sau trám bít; F, Hai ống tủy đã được trám bít bằng gutta-percha.

 

Nguồn: Easy Endodontics for Clinical Practice with Color Atlas – Mostafa Ali.