August 8, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Tiêu chuẩn đánh giá thẩm mĩ răng trước – P1

Hình 2.1. Các tiêu chuẩn đánh giá thẩm mĩ. 14 tiêu chuẩn khách quan gồm:
1. Nướu lành mạnh
2. Sự lấp đầy khoảng tiếp cận.
3. Trục răng.
4. Đỉnh cao nhất của đường viền nướu.
5. Mức viền nướu.
6. Mức tiếp xúc.
7. Kích thước các răng.
8. Hình dạng các răng.
9. Đặc trưng răng.
10. Cấu trúc bề mặt.
11. Màu răng.
12. Hình dạng rìa cắn.
13. Đường môi dưới.
14. Sự cân xứng của nụ cười.
4 tiêu chuẩn chủ quan gồm:
1. Sự đa dạng về hình dạng răng.
2. Sự sắp xếp các răng.
3. Chiều dài thân răng.
4. Khoảng thụ động.

 

Tiêu chuẩn 1: Sự lành mạnh của nướu

Phải gồm những yếu tố sau (H2.2a):

– Nướu rời (FG) từ viền nướu cho đến đáy rãnh nướu có màu hồng san hô.

– Nướu dính (AG) mở rộng từ rãnh nướu rời cho đến tiếp nối nướu – niêm mạc, màu hồng san hô và cấu trúc săn chắc (bám chặt vào xương ổ răng), có dạng “vỏ cam” ở khoảng 30% – 40% ở người trưởng thành.

– Niêm mạc xương ổ (AM) nằm về phía chóp từ phía đường tiếp nối nướu – niêm mạc, có màu đỏ sẫm hơn và di động.

Hình 2.2. a. Sự lành mạnh của nướu. Nướu rời (FG), rãnh nướu (đường màu trắng), nướu dính (AG), đường tiếp nối nướu – niêm mạc (đường màu đen) và niêm mạc xương ổ (AM).

 

Sức khỏe nướu được duy trì nhờ vệ sinh răng miệng. Khi thực hiện các thủ thuật lâm sàng phải tôn trọng khoảng sinh học. Đường viền phía nướu của các loại miếng trám phục hồi hay phục hình cũng ảnh hưởng đến sức khỏe nướu.

Tiêu chuẩn 2: Sự lấp đầy khoảng tiếp cận giữa các răng.

Ở những người trẻ có nướu lành mạnh, khoảng tiếp xúc giữa các răng được lấp đầy bởi mô dạng sò, tạo thành gai nướu (H2.2b).

Hình 2.2. b. Sự lấp đầy khoảng tiếp cận (mũi tên).

 

Vệ sinh răng miệng kém hoặc bệnh lí mô nha chu có thể làm thay đổi cấu trúc gai nướu này.

Tiêu chuẩn 3: Trục răng

Hầu hết trục các răng đều hơi nghiêng xa, độ nghiêng này hơi tăng dần từ răng cửa giữa cho đến răng nanh (H2.2c).

Hình 2.2. c. Trục răng ở hàm răng chuẩn (trái) và hàm răng bị mòn (phải).

 

Tiêu chuẩn 4. Đỉnh cao nhất của đường viền nướu.

Thường nằm ở chính giữa trục răng hoặc hơi về phía xa (H2.2d).

Hình 2.2. d. Các đỉnh viền nướu cao nhất.

 

Sửa soạn cùi răng cho mão hoặc veneer phải tôn trọng hình dạng viền nướu.

Tiêu chuẩn 5: Mức viền nướu

Đường viền nướu răng cửa bên hơi thấp hơn (nằm về phía thân răng hơn) răng cửa giữa và răng nanh (H2.2e), được xếp vào chiều cao nướu loại 1.

Hình 2.2. e. Mức viền nướu theo chiều ngang, răng cửa bên hơi thấp hơn răng cửa giữa và răng nanh, được xếp vào chiều cao nướu loại 1.

 

Ở chiều cao nướu loại 2, đường viền nướu răng cửa bên nằm về phía chóp hơn so với răng cửa giữa và răng nanh. Để đảm bảo sự hài hòa thì răng cửa bên phải có rìa cắn thấp hơn (H2.2f), ngoài ra phải hơi phủ lên răng cửa giữa 1 chút (theo Rufenacht).

Hình 2.2. f. Hình ảnh trước và sau điều trị thay thế phục hình toàn sứ hàm trên có từ trước của 1 bệnh nhân. Đường viền nướu R12 bình thường (loại 1), nhưng R22 thì là loại 2, cần giảm thấp bớt chiều cao phía rìa cắn cho hài hòa.

 

Trong những trường hợp nặng, phải phẫu thuật nha chu để tái lập lại đường viền nướu.

Tiêu chuẩn 6: Mức tiếp xúc

Vị trí các điểm tiếp xúc liên quan đến vị trí và hình thể răng. Điểm tiếp xúc răng cửa giữa thì nằm gần về phía thân răng, và càng nằm về phía chóp hơn khi đến các răng cửa bên và răng nanh (H2.2g).

Hình 2.2. g. Mức tiếp xúc tăng dần về phía chóp từ răng cửa giữa đến răng nanh.

 

Tiêu chuẩn 7: Kích thước răng

Do sự đa dạng về kích thước và sự mòn răng khiến cho việc xác định kích thước chuẩn cho răng rất khó. Nhiều nghiên cửa so sánh tỉ lệ các kích thước của răng với nhiều với tỉ lệ của các thành phần trong kiến trúc, cuối cùng đã đưa ra 1 công thức toán học được coi là “tỉ lệ vàng” trong xác định kích thước răng lí tưởng theo chiều gần xa (H2.3b).

Hình 2.3. Tỉ lệ vàng cho các răng trước. (a) Hình ảnh ban đầu, từ răng cửa giữa đến răng nanh không theo tỉ lệ vàng. (b) Hình ảnh đã được chỉnh sửa theo tỉ lệ vàng. Tỉ lệ “răng cửa bên:răng cửa giữa” là 1:1.618, “răng cửa bên:răng nanh” là 1:0.618. Tuy nhiên tỉ lệ vàng không mang tính thực tế vì nó sẽ dẫn đến sự hẹp hàm trên bất thường.

 

Lombardi là người đầu tiên nhắc đến tỉ lệ vàng ở các răng trước. Tuy nhiên Preston đã thực hiện và chứng minh sự phi thực tế của nó, vì gây ra sự thu hẹp quá mức hàm trên và co nhỏ lại của răng cửa bên.

Những kết quả nghiên cứu của Sterrett và cộng sự có thể được áp dụng để xác định chiều cao và chiều rộng chuẩn của các răng trước (H2.3c).

Hình 2.3. c. Tỉ lệ chiều rộng/chiều cao giữa các răng trước. So sánh các tỉ lệ này giữa nam và nữ thì hầu như không khác biệt nhiều, ngoại trừ răng nanh thì ở nam có xu hướng hơi dài hơn ở nữ.

 

Tỉ lệ chiều rộng/chiều cao được chứng minh là thông số ít thay đổi nhất giữa các răng.

Hình 2.3. d. Các răng có chiều rộng bằng nhau nhưng tỉ lệ khác nhau, nên dường như thấy chiều rộng cũng khác nhau.

 

1 yếu tố khác rất quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ này là độ sáng (H2.3e và tiêu chuẩn 11).

Hình 2.3. e. 2 răng có kích thước giống nhau, răng sáng hơn sẽ trông lớn hơn và gần hơn so với răng tối.

 

Nhiều kết quả từ Sterrett và cộng sự, cộng với nhiều kết luận khác nhau giúp ta rút ra những tiêu chuẩn sau cho răng trước hàm trên:

– Tỉ lệ chiều rộng/chiều cao của các răng là giống nhau (từ 77% đến 86%) (nghĩa là giữa các răng cửa giữa thì giống nhau, các răng cửa bên thì giống nhau và răng nanh cũng giống nhau).

– Răng cửa giữa hơi rộng hơn răng cửa bên từ 2 – 3 mm.

– Răng cửa giữa hơi rộng hơn răng nanh từ 1 – 1.5 mm.

– Răng nanh hơi rộng hơn răng cửa bên, từ 1 – 1.5 mm.

– Răng cửa giữa và răng nanh có chiều cao gần bằng nhau (sai số khoảng 0.5 mm), hơi cao hơn răng cửa bên từ 1 – 1.5 mm.

Hình 2.3. f. Chiều cao và chiều rộng trung bình bởi Sterrett và cộng sự (hàng 1 và hàng 2), chiều rộng thân răng được đề xuất bởi Reynolds khi lựa chọn răng trụ trong PHCĐ (hàng 3). Chiều rộng và chiều cao thực sự đo được trên răng sau khi nhổ ra (hàng 4) (tất cả đều trên cùng 1 bệnh nhân).

 

Ở những bệnh nhân làm phục hình mà các răng hàm trên bị thay đổi thì các răng hàm dưới còn nguyên vẹn có thể giúp xác định lại kích thước các răng trước hàm trên (H2.3g).

Hình 2.3. g. Răng trước hàm dưới giúp xác định lại chiều rộng tương đối các răng hàm trên. Chiều rộng răng cửa giữa trên bằng “chiều rộng răng cửa giữa dưới” cộng với “1/2 chiều rộng răng cửa bên dưới”.

 

Tiêu chuẩn 8: Hình thể răng đặc trưng

Răng cửa giữa

Răng cửa giữa và răng cửa bên có giải phẫu và chức năng tương tự nhau, dùng để cắn và xé thức ăn (H2.4).

– Đường viền gần có thể thẳng hoặc hơi lồi nhẹ.

– Đường viền xa cong lõm hơn so với phía gần. Góc cắn phía xa hơi tròn.

– Đường viền rìa cắn có thể thẳng hoặc cong do mòn chức năng.

Sự mòn răng tăng dần theo độ tuổi, làm thay đổi cấu trúc bề mặt, mất mô răng và những thay đổi về cơ học cũng như thẩm mĩ.

Hình 2.4. a. Mặt ngoài đặc trưng của răng cửa giữa: cạnh gần thẳng, cạnh xa hơi cong. Góc gần vuông, góc xa hơi tròn hơn góc gần.

 

 

Hình 2.4. b. Hình ảnh tiếp tuyến mặt ngoài. Góc chuyển tiếp phía gần (mũi tên đơn) hơi nhô hơn góc phía xa (mũi tên 3).

 

Hình 2.4. c. Ảnh chụp trong miệng với đèn 2 điểm kép (dual point light) cho thấy hình ảnh gờ phía gần.

 

Có 3 dạng răng chính (H2.5).

Hình 2.5. Những biến thể của răng cửa giữa. (a) Dạng răng vuông, cạnh gần và cạnh xa thẳng, song song nhau, tạo nên vùng cổ răng rộng. (b) Dạng trứng, cạnh gần và xa cong, vùng cổ hẹp, rìa cắn hẹp và đôi khi tròn. (c) Dạng tam giác, cạnh xa không song song với cạnh gần và khá nghiêng, cổ răng hẹp, rìa cắn rộng và hơi cong.

 

Răng cửa bên

Khá giống răng cửa giữa nhưng kích thước nhỏ hơn (xem lại H2.3f) và các góc cắn hơi tròn hơn (H2.6).

Răng cửa bên là răng có sự đa dạng về hình thể nhất, ngoài ra còn hay gặp các bất thường như răng cửa bên hình nón, rãnh tăng trưởng nằm ở mặt trong mở rộng về phía chóp răng.

Răng nanh

Được đặc trưng bởi nhiều độ cong (H2.6). Răng nanh dày theo chiều ngoài trong do sự phát triển của cingulum.

Hình 2.6. Hình thể răng cửa bên và răng nanh. (a) Nhìn tiếp tuyến răng nanh (trái) và răng cửa bên (phải). Gờ gần cả 2 răng đều nhô, cạnh phía xa thì thuôn hơn. (b) Ảnh chụp trong miệng với đèn 2 điểm kép để thấy rõ gờ gần lồi.

 

Xem tiếp phần 2 tại đây.

Nguồn: Bonded Porcelain Restorations in The Anterior Dentition – Pascal Magne, Urs Belser.