Xem lại tập 1 tại đây.
5. Kỹ thuật trám bít ống tuỷ với gutta-percha
Gutta-percha là vật liệu trám bít được sử dụng rộng rãi nhất trên lâm sàng, do đó các kỹ thuật được mô tả trong chương sẽ tập trung vào việc sử dụng vật liệu này.
Gutta-percha có nhiều dạng và kích cỡ khác nhau, bao gồm côn gutta-percha và gutta-percha thỏi cho các hệ thống bơm nhiệt dẻo (xem hình 15.1 và 15.2).
Việc lựa chọn phương pháp trám bít chủ yếu dựa trên đào tạo và sở thích của bác sĩ, cũng như giải phẫu cụ thể của từng ca. Mỗi kỹ thuật có ưu điểm và hạn chế, nhưng không có sự khác biệt đáng kể về kết quả giữa các kỹ thuật trám bít hiện đại sử dụng gutta-percha.
5.1. Lèn ngang nguội (cold lateral condensation)
Lèn ngang nguội (thường được gọi là lèn ngang) là kỹ thuật trám bít phổ biến nhất được dạy cho sinh viên nha khoa tiền lâm sàng. Ưu điểm của lèn ngang bao gồm:
– Có thể sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau.
– Không yêu cầu thiết bị chuyên dụng.
– Có lịch sử thành công lâm sàng.
– An toàn và dễ học cho bác sĩ mới vào nghề, ít gây khó khăn về mặt kỹ thuật hơn các phương pháp khác.
– Kiểm soát chiều dài dễ dự đoán (ít có khả năng trám quá chóp).
Nhược điểm của lèn ngang là:
– Tốn nhiều thời gian hơn một số kỹ thuật trám bít khác.
– Khó sử dụng trong một số trường hợp lâm sàng (ví dụ: ống tủy rất cong, nội tiêu, chóp răng mở rộng hoặc giải phẫu ống tủy bất thường).
Những trường hợp này được coi là “độ khó cao” và thường được chuyển đến chuyên gia để điều trị.
Kỹ thuật lèn ngang, và tất cả các kỹ thuật trám bít, có thể thay đổi đôi chút tùy theo bác sĩ. Dưới đây là mô tả kỹ thuật lèn ngang nguội truyền thống:
- Làm khô ống tủy: Ống tủy được làm khô. Côn giấy đưa đến chiều dài làm việc và được rút ra khô, không có dung dịch bơm rửa, máu hoặc dịch tiết.
- Chọn côn gutta-percha chính: côn gutta-percha nên được xử lý bằng kìm gắp bông (loại có khóa được ưu tiên) và đo bằng thước milimet.
Trong kỹ thuật lèn ngang nguội cổ điển, côn chính là côn 0.02 với kích thước đầu tương ứng với kích thước trâm chóp chính (MAF) mà ống tủy đã được sửa soạn. Côn được chọn nên đặt vừa đến chiều dài làm việc, không thể đẩy quá chiều dài làm việc và có cảm giác kháng lực nhẹ khi rút ra khỏi ống tủy. Lực kháng này (gọi là tug-back) cho thấy côn đang kẹt vào thành ống tủy (hình 14.11).

– Côn chính không đưa đến hết chiều dài làm việc thì là quá lớn (kẹt trước chiều dài làm việc). Còn côn chính có thể đẩy quá chiều dài làm việc thì là quá nhỏ (không kẹt tại chiều dài làm việc, dẫn đến trám quá chóp).
– Côn chính không có kháng lực khi rút ra cũng là quá nhỏ (không vừa khít tại chiều dài làm việc), mặc dù cảm giác này có thể khó phát hiện.
– Cần kiểm tra kỹ để phát hiện côn bị cong khi đặt đến chiều dài làm việc và rút ra; điều này cho thấy côn không phù hợp. Côn cong gần đầu có thể là quá nhỏ.

Côn cong ở phần thân hơn có thể là quá lớn (có vẻ đặt đến chiều dài làm việc vì kìm gắp chạm điểm tham chiếu, nhưng côn sẽ ngắn do cong).
– Các biến thể trong việc chọn côn chính được một số bác sĩ ưa chuộng bao gồm sử dụng côn 0.04 hoặc côn không chuẩn với đầu cắt theo đường kính tùy chỉnh. Các dụng cụ chuyên dụng trên thị trường giúp cắt đầu côn gutta-percha theo đường kính cụ thể (hình 14.13).

– Thường bác sĩ sẽ thử nhiều côn chính, kể cả cùng kích thước, trước khi chọn côn phù hợp để trám bít ống tủy. Do biến thể trong sản xuất, kích thước thực tế của côn gutta-percha sẽ khác nhau, ngay cả khi được gắn nhãn cùng kích thước ISO và độ thuôn.
- Đưa sealer trám bít vào ống tủy: Các phương pháp khác nhau đã được sử dụng để bôi chất trám bít lên thành ống tủy, bao gồm:
– Sử dụng trâm tay đặt đến chiều dài và xoay ngược chiều kim đồng hồ.
– Sử dụng lentulo quay.
– Sử dụng ngay côn gutta-percha chính đã chọn (hình 14.14).

Mục tiêu là tạo một lớp sealer trám bít mỏng trên tất cả các thành ống tủy. Trong hầu hết các trường hợp, sealer trám bít được đặt cả trong ống tủy trước khi đặt côn chính và được phết lên côn chính trước khi đặt nó vào. Loại sealer trám bít được chọn tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ.
- Phết sealer trám bít lên côn chính và đặt côn vào ống tủy: Chất trám bít được phết lên côn gutta-percha chính, và côn chính được đặt vào ống tủy đến chiều dài làm việc. Côn được đặt bằng áp lực nhẹ nhàng, liên tục. Nếu không đặt đúng đến chiều dài làm việc ngay lần đầu, nên rút côn ra vài milimet và đặt lại từ từ. Có thể cần “bơm” côn chính lên xuống nhẹ nhàng vài lần để côn đạt đến chiều dài làm việc mong muốn.
- Chọn cây lèn ngang: Cây lèn có nhiều chiều dài, kích thước và độ thuôn khác nhau. Có thể sử dụng cây lèn cầm bằng ngón tay niken-titan hoặc cây lèn cầm bằng bàn tay thép không gỉ (hình 14.15).

Cây lèn ngón tay niken-titan có ưu điểm là có thể đưa sâu hơn vào ống tủy mà tác dụng ít lực hơn lên thành ống tủy (hình 14.16).

Cây lèn ngón tay cũng được nhiều người ưa chuộng vì chúng được cầm và sử dụng tương tự như trâm ngón tay, đồng thời dễ tiếp cận các khu vực khó trong miệng. Chọn cây lèn sao cho có thể đặt vào ống tủy đến khoảng cách xấp xỉ 1 đến 2 mm so với chiều dài làm việc.
- Đưa cây lèn vào ống tủy: Cây lèn được đưa vào ống tủy và xoay bằng chuyển động qua lại, giữ trục dài của cây lèn trên cùng một mặt phẳng, để tạo không gian ngang trong ống tủy. Tạo lực vừa phải theo hướng chóp, trong khi xoay tay cầm qua một góc khoảng 30 độ, giữ lực dọc theo trục dài của cây lèn. Cây lèn sẽ lỏng hơn khi di chuyển theo chuyển động này. Cây lèn được rút ra khỏi ống tủy cũng bằng chuyển động qua lại. Khi rút cây lèn, nên giữ đầu côn đã đặt trong ống tủy để ngăn chúng bị rời khỏi chiều dài làm việc đã đặt.
- Thêm côn phụ: Các côn phụ được thêm vào không gian do cây lèn tạo ra (hình 14.17).

Có thể sử dụng các loại côn phụ khác nhau, phù hợp với kích thước cây lèn. Thông thường, côn không chuẩn hoặc côn chuẩn số 25, độ thuôn 0.02 được sử dụng làm côn phụ.
Trong các ống tủy rất lớn, có thể sử dụng côn phụ lớn hơn và cây lèn cỡ lớn hơn. Cần thận trọng trong quá trình lèn ngang, tránh tạo lực quá mạnh trong ống tủy (khuyến cáo này cũng áp dụng cho các kỹ thuật khác). Lực sử dụng được khuyến nghị không quá 2,5 pound để làm tránh gãy chân răng theo chiều dọc (hình 14.18).

- Chụp X-quang thử côn chính: Hầu hết các bác sĩ chọn chụp X-quang sau khi côn chính được đặt vào ống tủy. Mục đích của “phim X-quang thử côn chính” là kiểm tra xem gutta-percha đã được đặt đúng đến chiều dài làm việc mong muốn hay chưa.
Ngoài ra, bác sĩ có thể chọn thêm một đến hai côn phụ trước khi chụp X-quang. Phim X-quang “lèn ban đầu” này được sử dụng để kiểm tra chiều dài côn gutta-percha chính đảm bảo không bị xê dịch trong quá trình lèn ban đầu, và không có khoảng trống ở 1/3 chóp ống tủy.
Nếu phát hiện lỗi trên phim X-quang côn chính hoặc lèn ban đầu, vẫn có thể dễ dàng rút côn ra khỏi ống tủy trước khi cắt bỏ, và sửa lại hoặc chọn côn chính mới. Rút côn ra khỏi ống tủy một cách chậm rãi.
- Tiếp tục lèn ngang: Nếu phim X-quang côn chính hoặc lèn ban đầu đạt yêu cầu, quá trình lèn ngang sẽ được tiếp tục. Cây lèn được đưa vào, và các côn phụ tiếp theo cũng được bôi sealer trám bít trước khi đặt vào ống tủy (hình 14.19).

Khi thêm nhiều côn phụ, cây lèn sẽ đặt vào ống tủy càng ít sâu hơn. Quá trình lèn nên tiếp tục cho đến khi cây lèn không thể đặt sâu hơn khoảng 4 mm dưới mức miệng ống tủy (hình 14.20).

- Cắt bỏ côn gutta-percha: Khi đạt đến mức trám bít phù hợp, các côn gutta-percha được cắt bỏ ở mức mong muốn. Có thể sử dụng cây nhồi nhiệt để cắt côn (hình 14.21).

Trong lịch sử, đèn Bunsen hoặc đèn cồn với cây nhồi tay được sử dụng nếu không có cây nhồi nhiệt điện. Cây nhồi nguội cầm tay được sử dụng để nén phần gutta-percha còn lại theo chiều dọc, lấp đầy bất kỳ khoảng trống nào ở vùng thân răng và tạo bề mặt gutta-percha mịn ở phần thân ống tủy (hình 14.22).

Nếu có đặt vật liệu bít miệng ống tủy, mức gutta-percha mong muốn là 1 đến 2 mm dưới mức đường nối men-xi măng mặt ngoài (CEJ) hoặc sàn tủy (ở răng cối lớn). Khoảng trống 1 đến 2 mm sau đó được lấp đầy bằng vật liệu bít miệng ống tủy. Nếu không đặt vật liệu bít miệng ống tủy, gutta-percha được nhồi đến mức đường nối men-xi măng mặt ngoài hoặc sàn tủy. Nếu cần khoảng trống để đặt chốt, có thể loại bỏ thêm gutta-percha đến mức phù hợp cho khoảng trống chốt.
5.2. Nhồi dọc nóng (warm vertical condensation)
…..
SÁCH NỘI NHA TẬP 2, GỒM 492 TRANG, GIÁ SÁCH 450k FREE SHIP. CÁC BÁC LIÊN HỆ MUA SÁCH TẠI ĐÂY NHÉ.
Xem lại tập 1 tại đây.


Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P1
Sách nội nha – tập 1
Xử trí ca lâm sàng có tổn thương nội nha-nha chu cho răng đã điều trị tủy trước đó