April 21, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Sách Nội nha – tập 2

Xem lại tập 1 tại đây.

5. Kỹ thuật trám bít ống tuỷ với gutta-percha 

Gutta-percha là vật liệu trám bít được sử dụng rộng rãi nhất trên lâm sàng, do đó các kỹ thuật được mô tả trong chương sẽ tập trung vào việc sử dụng vật liệu này.

Gutta-percha có nhiều dạng và kích cỡ khác nhau, bao gồm côn gutta-percha và gutta-percha thỏi cho các hệ thống bơm nhiệt dẻo (xem hình 15.1 và 15.2).

Việc lựa chọn phương pháp trám bít chủ yếu dựa trên đào tạo và sở thích của bác sĩ, cũng như giải phẫu cụ thể của từng ca. Mỗi kỹ thuật có ưu điểm và hạn chế, nhưng không có sự khác biệt đáng kể về kết quả giữa các kỹ thuật trám bít hiện đại sử dụng gutta-percha.

5.1. Lèn ngang nguội (cold lateral condensation)

Lèn ngang nguội (thường được gọi là lèn ngang) là kỹ thuật trám bít phổ biến nhất được dạy cho sinh viên nha khoa tiền lâm sàng. Ưu điểm của lèn ngang bao gồm: 

– Có thể sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. 

– Không yêu cầu thiết bị chuyên dụng. 

– Có lịch sử thành công lâm sàng. 

– An toàn và dễ học cho bác sĩ mới vào nghề, ít gây khó khăn về mặt kỹ thuật hơn các phương pháp khác. 

– Kiểm soát chiều dài dễ dự đoán (ít có khả năng trám quá chóp). 

Nhược điểm của lèn ngang là: 

– Tốn nhiều thời gian hơn một số kỹ thuật trám bít khác. 

– Khó sử dụng trong một số trường hợp lâm sàng (ví dụ: ống tủy rất cong, nội tiêu, chóp răng mở rộng hoặc giải phẫu ống tủy bất thường). 

Những trường hợp này được coi là “độ khó cao” và thường được chuyển đến chuyên gia để điều trị. 

Kỹ thuật lèn ngang, và tất cả các kỹ thuật trám bít, có thể thay đổi đôi chút tùy theo bác sĩ. Dưới đây là mô tả kỹ thuật lèn ngang nguội truyền thống: 

  1. Làm khô ống tủy: Ống tủy được làm khô. Côn giấy đưa đến chiều dài làm việc và được rút ra khô, không có dung dịch bơm rửa, máu hoặc dịch tiết.
  2. Chọn côn gutta-percha chính: côn gutta-percha nên được xử lý bằng kìm gắp bông (loại có khóa được ưu tiên) và đo bằng thước milimet.

Trong kỹ thuật lèn ngang nguội cổ điển, côn chính là côn 0.02 với kích thước đầu tương ứng với kích thước trâm chóp chính (MAF) mà ống tủy đã được sửa soạn. Côn được chọn nên đặt vừa đến chiều dài làm việc, không thể đẩy quá chiều dài làm việc và có cảm giác kháng lực nhẹ khi rút ra khỏi ống tủy. Lực kháng này (gọi là tug-back) cho thấy côn đang kẹt vào thành ống tủy (hình 14.11). 

 

Hình 14.11. Côn chính nên có độ ma sát nhẹ khi vừa khít ở phần xa nhất của ống tủy.

 

– Côn chính không đưa đến hết chiều dài làm việc thì là quá lớn (kẹt trước chiều dài làm việc). Còn côn chính có thể đẩy quá chiều dài làm việc thì là quá nhỏ (không kẹt tại chiều dài làm việc, dẫn đến trám quá chóp). 

 – Côn chính không có kháng lực khi rút ra cũng là quá nhỏ (không vừa khít tại chiều dài làm việc), mặc dù cảm giác này có thể khó phát hiện. 

– Cần kiểm tra kỹ để phát hiện côn bị cong khi đặt đến chiều dài làm việc và rút ra; điều này cho thấy côn không phù hợp. Côn cong gần đầu có thể là quá nhỏ.

 

Hình 14.12. (A) Đầu côn chính bị cong vênh khi đưa vào ống tủy là quá nhỏ. (B) Cần chọn côn lớn hơn hoặc cắt bớt để tạo đầu côn có kích thước lớn hơn.

 

Côn cong ở phần thân hơn có thể là quá lớn (có vẻ đặt đến chiều dài làm việc vì kìm gắp chạm điểm tham chiếu, nhưng côn sẽ ngắn do cong). 

   – Các biến thể trong việc chọn côn chính được một số bác sĩ ưa chuộng bao gồm sử dụng côn 0.04 hoặc côn không chuẩn với đầu cắt theo đường kính tùy chỉnh. Các dụng cụ chuyên dụng trên thị trường giúp cắt đầu côn gutta-percha theo đường kính cụ thể (hình 14.13). 

 

Hình 14.13. Các dụng cụ chuyên dụng để cắt côn gutta-percha theo kích thước đầu tiêu chuẩn của ISO. (A) Gutta Gauge (Dentsply Sirona.) (B) Tip Snip (Kerr Endodontics.)

 

– Thường bác sĩ sẽ thử nhiều côn chính, kể cả cùng kích thước, trước khi chọn côn phù hợp để trám bít ống tủy. Do biến thể trong sản xuất, kích thước thực tế của côn gutta-percha sẽ khác nhau, ngay cả khi được gắn nhãn cùng kích thước ISO và độ thuôn. 

  1. Đưa sealer trám bít vào ống tủy: Các phương pháp khác nhau đã được sử dụng để bôi chất trám bít lên thành ống tủy, bao gồm:

   – Sử dụng trâm tay đặt đến chiều dài và xoay ngược chiều kim đồng hồ. 

   – Sử dụng lentulo quay. 

   – Sử dụng ngay côn gutta-percha chính đã chọn (hình 14.14). 

 

Hình 14.14. Phương pháp đơn giản và hiệu quả để bôi vật liệu trám bít (sealer) là sử dụng trâm tay phết đầy sealer đưa vào ống tủy và xoay ngược chiều kim đồng hồ để phủ đều thành ống tủy.

 

Mục tiêu là tạo một lớp sealer trám bít mỏng trên tất cả các thành ống tủy. Trong hầu hết các trường hợp, sealer trám bít được đặt cả trong ống tủy trước khi đặt côn chính và được phết lên côn chính trước khi đặt nó vào. Loại sealer trám bít được chọn tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ.

  1. Phết sealer trám bít lên côn chính và đặt côn vào ống tủy: Chất trám bít được phết lên côn gutta-percha chính, và côn chính được đặt vào ống tủy đến chiều dài làm việc. Côn được đặt bằng áp lực nhẹ nhàng, liên tục. Nếu không đặt đúng đến chiều dài làm việc ngay lần đầu, nên rút côn ra vài milimet và đặt lại từ từ. Có thể cần “bơm” côn chính lên xuống nhẹ nhàng vài lần để côn đạt đến chiều dài làm việc mong muốn.
  2. Chọn cây lèn ngang: Cây lèn có nhiều chiều dài, kích thước và độ thuôn khác nhau. Có thể sử dụng cây lèn cầm bằng ngón tay niken-titan hoặc cây lèn cầm bằng bàn tay thép không gỉ (hình 14.15).

 

Hình 14.15. Cây lèn ngang cầm bằng ngón tay (finger spreader) kích thước 30.

 

Cây lèn ngón tay niken-titan có ưu điểm là có thể đưa sâu hơn vào ống tủy mà tác dụng ít lực hơn lên thành ống tủy (hình 14.16).

 

Hình 14.16. So sánh giữa cây lèn ngang cầm bằng bàn tay (hand spreader) và lèn ngang cầm bằng ngón tay (finger spreader). (A) Lèn ngang cầm bàn tay thì cứng và có độ thuôn lớn hơn nên không thể đi qua được đoạn ống tủy cong. (B) Lèn ngang cầm ngón tay thì nhỏ hơn và mềm dẻo hơn, cho phép đi sâu hơn và tạo lực ít hơn lên thành ống tủy.

 

Cây lèn ngón tay cũng được nhiều người ưa chuộng vì chúng được cầm và sử dụng tương tự như trâm ngón tay, đồng thời dễ tiếp cận các khu vực khó trong miệng. Chọn cây lèn sao cho có thể đặt vào ống tủy đến khoảng cách xấp xỉ 1 đến 2 mm so với chiều dài làm việc.

  1. Đưa cây lèn vào ống tủy: Cây lèn được đưa vào ống tủy và xoay bằng chuyển động qua lại, giữ trục dài của cây lèn trên cùng một mặt phẳng, để tạo không gian ngang trong ống tủy. Tạo lực vừa phải theo hướng chóp, trong khi xoay tay cầm qua một góc khoảng 30 độ, giữ lực dọc theo trục dài của cây lèn. Cây lèn sẽ lỏng hơn khi di chuyển theo chuyển động này. Cây lèn được rút ra khỏi ống tủy cũng bằng chuyển động qua lại. Khi rút cây lèn, nên giữ đầu côn đã đặt trong ống tủy để ngăn chúng bị rời khỏi chiều dài làm việc đã đặt.
  2. Thêm côn phụ: Các côn phụ được thêm vào không gian do cây lèn tạo ra (hình 14.17).

 

Hình 14.17. Các bước của kỹ thuật lèn ngang nguội (lateral condensation). (A) Côn chính được đặt vừa khít. (B) Đưa cây lèn (spreader) vào, lý tưởng là cách chiều dài làm việc 1 đến 2 mm. (C) Cây lèn được xoay và rút ra, sau đó đưa một côn phụ vào khoảng trống vừa tạo ra. (D) Lặp lại quy trình.

 

Có thể sử dụng các loại côn phụ khác nhau, phù hợp với kích thước cây lèn. Thông thường, côn không chuẩn hoặc côn chuẩn số 25, độ thuôn 0.02 được sử dụng làm côn phụ.

Trong các ống tủy rất lớn, có thể sử dụng côn phụ lớn hơn và cây lèn cỡ lớn hơn. Cần thận trọng trong quá trình lèn ngang, tránh tạo lực quá mạnh trong ống tủy (khuyến cáo này cũng áp dụng cho các kỹ thuật khác). Lực sử dụng được khuyến nghị không quá 2,5 pound để làm tránh gãy chân răng theo chiều dọc (hình 14.18).

 

Hình 14.18. Việc dùng lực quá mạnh trong kỹ thuật lèn ngang hoặc bất kỳ kỹ thuật trám bít nào cũng có thể dẫn đến gãy dọc chân răng. (A) Phim X-quang quanh chóp R15 với đường gãy dọc chân răng. (B) Đường gãy dọc chân răng được quan sát thấy kéo dài lên mặt ngoài (mặt má) từ hướng chóp. Chân răng đã được nhuộm bằng methylene blue để dễ quan sát hơn. (C) Đường gãy kéo dài vào ống tủy mặt ngoài, nhìn từ phía chóp.

 

  1. Chụp X-quang thử côn chính: Hầu hết các bác sĩ chọn chụp X-quang sau khi côn chính được đặt vào ống tủy. Mục đích của “phim X-quang thử côn chính” là kiểm tra xem gutta-percha đã được đặt đúng đến chiều dài làm việc mong muốn hay chưa.

Ngoài ra, bác sĩ có thể chọn thêm một đến hai côn phụ trước khi chụp X-quang. Phim X-quang “lèn ban đầu” này được sử dụng để kiểm tra chiều dài côn gutta-percha chính đảm bảo không bị xê dịch trong quá trình lèn ban đầu, và không có khoảng trống ở 1/3 chóp ống tủy.

Nếu phát hiện lỗi trên phim X-quang côn chính hoặc lèn ban đầu, vẫn có thể dễ dàng rút côn ra khỏi ống tủy trước khi cắt bỏ, và sửa lại hoặc chọn côn chính mới. Rút côn ra khỏi ống tủy một cách chậm rãi.

  1. Tiếp tục lèn ngang: Nếu phim X-quang côn chính hoặc lèn ban đầu đạt yêu cầu, quá trình lèn ngang sẽ được tiếp tục. Cây lèn được đưa vào, và các côn phụ tiếp theo cũng được bôi sealer trám bít trước khi đặt vào ống tủy (hình 14.19).

 

Hình 14.19. Sơ đồ các bước của kỹ thuật lèn ngang. Mỗi lần đưa cây lèn (spreader) đến vị trí sâu nhất về phía chóp sẽ ép côn gutta-percha về phía thành ống đối diện. Khi hoàn tất trám bít, ống tủy được lấp đầy bằng một chuỗi các côn đã được kết dính với sealer trám bít. (A), Ống tủy đã được sửa soạn. (B), Đặt côn chính vào. (C), Đưa cây lèn (spreader) vào. (D), Đặt côn phụ (vòng tròn nét đứt). (E–H), Tiếp tục quá trình lèn ngang. (I), Hoàn tất trám bít ống tủy

 

 

Khi thêm nhiều côn phụ, cây lèn sẽ đặt vào ống tủy càng ít sâu hơn. Quá trình lèn nên tiếp tục cho đến khi cây lèn không thể đặt sâu hơn khoảng 4 mm dưới mức miệng ống tủy (hình 14.20).

 

Hình 14.20. Kỹ thuật lèn ngang. (A) Một trâm tay có kích thước tương ứng với trâm chóp chính được đưa vào để đảm bảo đạt chiều dài làm việc. (B) Đưa côn gutta-percha chính vừa đến chiều dài làm việc. (C) Vị trí côn được kiểm tra bằng phim X-quang. (D) Sau khi phủ sealer trám bít và đặt côn vừa tới chiều dài, cây lèn (spreader) được đưa vào bên cạnh côn đã cố định (ở đây là ống tủy gần ngoài). (E) Đặt một côn phụ vào khoảng trống tạo ra bởi cây lèn. (F) Quy trình được lặp lại (tức là đưa lại cây lèn, sau đó đặt thêm côn phụ) cho đến khi cây lèn không thể đi sâu hơn 1/3 giữa của ống tủy. Cắt côn ở miệng ống tủy bằng nhiệt, sau đó khối vật liệu ở phần thân răng được nhồi theo chiều dọc. (G) Các ống tủy còn lại được trám bít theo cùng phương pháp. (H) Phim X-quang cuối cùng cho thấy bốn ống tủy đã được trám bít đúng cách.

 

 

  1. Cắt bỏ côn gutta-percha: Khi đạt đến mức trám bít phù hợp, các côn gutta-percha được cắt bỏ ở mức mong muốn. Có thể sử dụng cây nhồi nhiệt để cắt côn (hình 14.21).

 

 

Hình 14.21. Máy nhồi gutta-percha nhiệt điện có thể được dùng để cắt bỏ gutta-percha trong quá trình trám bít bằng kỹ thuật lèn ngang nguội, cũng như truyền nhiệt vào ống tủy để loại bỏ gutta-percha trong các kỹ thuật trám bít nhiệt. Touch ‘n Heat là cây nhồi nhiệt điện đầu tiên được thương mại hóa rộng rãi và vẫn đang được bán trên thị trường hiện nay.

 

Trong lịch sử, đèn Bunsen hoặc đèn cồn với cây nhồi tay được sử dụng nếu không có cây nhồi nhiệt điện. Cây nhồi nguội cầm tay được sử dụng để nén phần gutta-percha còn lại theo chiều dọc, lấp đầy bất kỳ khoảng trống nào ở vùng thân răng và tạo bề mặt gutta-percha mịn ở phần thân ống tủy (hình 14.22).

 

Hình 14.22. Gutta-percha đã được cắt bỏ bằng nhiệt và nhồi theo chiều dọc bằng dụng cụ nhồi nguội tại vị trí miệng ống tủy ở răng cối nhỏ hàm trên.

 

Nếu có đặt vật liệu bít miệng ống tủy, mức gutta-percha mong muốn là 1 đến 2 mm dưới mức đường nối men-xi măng mặt ngoài (CEJ) hoặc sàn tủy (ở răng cối lớn). Khoảng trống 1 đến 2 mm sau đó được lấp đầy bằng vật liệu bít miệng ống tủy. Nếu không đặt vật liệu bít miệng ống tủy, gutta-percha được nhồi đến mức đường nối men-xi măng mặt ngoài hoặc sàn tủy. Nếu cần khoảng trống để đặt chốt, có thể loại bỏ thêm gutta-percha đến mức phù hợp cho khoảng trống chốt.

 

5.2. Nhồi dọc nóng (warm vertical condensation)

 

…..

SÁCH NỘI NHA TẬP 2, GỒM 492 TRANG, GIÁ SÁCH 450k FREE SHIP. CÁC BÁC LIÊN HỆ MUA SÁCH TẠI ĐÂY NHÉ.

Xem lại tập 1 tại đây.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message