Lấy tủy buồng nghĩa là loại bỏ phần buồng tủy bị viêm nhiễm trong khi vẫn bảo tồn phần tủy chân lành mạnh.
Chỉ định cho những răng sâu lớn lộ tủy.
Chống chỉ định cho những trường hợp có bệnh lí quanh chóp, lỗ dò do abscess, răng lung lay quá mức, tủy hoại tử và trường hợp không thể cầm máu buồng tủy.
Giải thích cho bố mẹ trẻ về gây tê, đặt đê và mão răng SSC (H6.1).

Chẩn đoán hình ảnh
Nên chụp một phim quanh chóp trước điều trị để loại trừ nhiễm trùng, nội ngoại tiêu chân răng, đánh giá mức độ phát triển của chân răng (H6.2a).

Chân răng sữa thường rất mảnh, nếu có nội ngoại tiêu chân răng thì nên chỉ định nhổ (H6.2 b).

Gây tê
Chỉ định gây tê tiêm ngấm ở hàm trên và gây tê chặn thần kinh ở hàm dưới. Đôi khi gây tê tiêm ngấm mặt ngoài hàm dưới thường đủ tê, nhưng nếu trẻ đau thì nên gây tê chặn thần kinh.
Nếu sau khi mở vào buồng tủy mà trẻ đau thì có thể nhỏ vài giọt xylocaine 2% với epinephrine 1:100,000 vào buồng tủy để tiếp tục điều trị mà không cần chích thêm.
Đặt đê
Nên đặt đê khi lấy tủy buồng. Đê cao su W8A thường phù hợp với R5 sữa (H6.3).

Kĩ thuật lấy tủy buồng
Phải loại bỏ toàn bộ mô răng sâu trước khi mở vào buồng tủy, đi từ ngoại vi cho đến trung tâm, như vậy mô răng nhiễm bẩn sẽ không gây ảnh hưởng đến buồng tủy. Nên mài hạ thấp mặt nhai (nếu có chỉ định mão) trước khi mở tủy (H6.6.).

Sau khi vào buồng tủy, cắt bỏ tủy buồng đến sát ống tủy. Đảm bảo mở tủy đủ rộng để có thể quan sát hết miệng ống tủy và phải loại bỏ những chỗ khấc có thể gây sót tủy (H6.7a,b).

Bơm rửa bằng nước muối vô trùng, natri hypochlorite và chlorhexidine. Không sử dụng nước từ tay xịt trừ khi đó là nước vô trùng (H6.8).

Sử dụng một viên gòn vô trùng ép lên buồng tủy (H6.9).

Có thể sử dụng một cây nạo nhỏ để nạo sạch mô tủy còn sót (H6.10).

Sau đó tiếp tục bơm rửa và ép gòn. Phải đảm bảo cầm máu hoàn toàn trước khi đặt thuốc. Nếu chảy máu quá nhiều thì thường chỉ định lấy tủy toàn bộ hoặc nhổ (H6.11).

Đặt thuốc
Natri hypochlorite là chất cầm máu và diệt khuẩn hiệu quả, có thể làm tan rã phần mô hoại tử trên bề mặt mà không gây hại mô bên dưới.
Một nghiên cứu cho thấy nếu có thể cầm máu bằng cách ép gòn trong vòng 60 giây thì không cần đặt thuốc gì cả (Hui – Derksen, 2013).
Hai loại thuốc được sử dụng trên lâm sàng nhiều nhất là formocresol và sắt sulfate. 82% các chương trình giảng dạy đều khuyên dùng formocresol cho lấy tủy buồng, tiếp theo là sắt sulfate và MTA.
- Sắt sulfate
Sắt sulfate được đặt vào buồng tủy trong vòng 10 – 15 giây, rửa sạch rồi lau khô bằng gòn vô trùng. Sắt sulfate phân hủy tạo ra acid sulfuric, có thể gây bỏng nếu tiếp xúc với mô miệng.
- MTA
MTA là hỗn hợp của tricalcium silicate, tricalcium aluminate, tricalcium oxide, bismuth oxide, dicalcium silicate và calcium sulfate. Được đóng gói dưới dạng bột và nước trộn với nhau tạo thành chất dạng kem.
Ưu điểm của MTA là khả năng bịt kín tốt, không cho vi khuẩn xâm nhập nhưng nhược điểm là đắt tiền và thời gian đông cứng lâu (khoảng 3 tiếng). MTA được trám phủ bởi một lớp lót (ví dụ IRM) trước khi trám kết thúc.
- Formocresol
Thấm formocresol vào gòn, rồi bóp chặt viên gòn bằng gạc, đặt vào buồng tủy trong vòng 1 phút (H6.12a, b).

Sàn tủy của các răng sữa sau khi lấy tủy buồng thường rất xốp. Nếu để viên gòn thấm ướt formocresol vào buồng tủy thì thuốc có thể xâm nhập vào các ống tủy phụ ở vùng chẽ gây sưng đau. Buồng tủy sau đó được trám lại bằng IRM (H6.13).

IRM được đặt vào buồng tủy và ép xuống bằng tăm bông ẩm (H6.14).

Phục hồi sau cùng
Nên chỉ định bọc mão. Răng cối sữa có thể được trám kết thúc bằng amalgam hoặc composite nếu như sắp thay trong vòng 2 năm.
Nguồn: Handbook of Clinical Technique in Pediatric Dentistry – Jane A. Soxman.


Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P1
Sách Nội nha – tập 2
Sách nội nha – tập 1