July 14, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Gây tê ở trẻ em

Hầu hết trẻ em đều sợ phải đến nha sĩ là do sợ bị tiêm. Bố mẹ trẻ không nên nói chuyện hay thảo luận với trẻ về việc chích tê trước cuộc hẹn. Lo âu là 1 trong những vấn đề khó kiểm soát nhất (Nakai, 2000). Lo âu có thể gây ra phát ban (H2.1).

 

Hình 2.1. Phát ban do lo âu.

 

Phản ứng dị ứng thuốc cũng có thể gây ra phát ban (H2.2).

 

Hình 2.2. Phát ban nghi do dị ứng penicillin.

 

Gây tê đối với trẻ có thể được ví như “thuốc ngủ”. Bác sĩ có thể bảo với trẻ rằng sẽ làm cho chiếc răng được ngủ 1 giấc, sau đó răng sẽ thức dậy, giống như việc trẻ thức dậy vào mỗi buổi sáng. Đê cao su có thể được ví như chiếc chăn cho răng ngủ.

Gây tê ở hàm dưới có thể dẫn đến tê môi, gây khó chịu cho trẻ. Nên nếu được thì gây tê đối với răng hàm trên trước, giúp trẻ quen với cảm giác tê trước khi tiếp cận các phương pháp gây tê phức tạp hơn ở hàm dưới. Cần thông báo với ba mẹ trẻ về cảm giác tê môi sau khi điều trị thường sẽ gây khó chịu cho trẻ nhiều hơn là việc chích tê.

 

Hình 2.3. Phản ứng của trẻ khi bị tê môi ngay sau khi kết thúc việc điều trị.

 

Có thể viết 1 mảnh giấy nhắc nhở không cắn mút môi má và dán lên áo cho trẻ. Tránh cho trẻ ăn đồ ăn quá nóng, hoặc đợi tan hết thuốc tê mới cho trẻ ăn. Có thể chỉ cho bố mẹ trẻ (hoặc cả trẻ nếu trẻ đủ lớn) thấy những hình ảnh hậu quả của cắn môi sau khi điều trị để nhắc nhở (H2.4).

 

Hình 2.4. Sưng nề môi và bầm môi do cắn.

 

Việc đâm kim thường gây khó chịu nhất trong quá trình gây tê. Các thuốc tê tại chỗ loại amide (lidocain) thường hấp thu nhanh vào hệ tuần hoàn và góp phần gây quá liều. Do đó chỉ nên bôi tê tại chỗ thật giới hạn vào vị trí sẽ đâm kim, lưu ý trước khi bôi phải lau khô vùng bôi bằng gạc (H2.5.a).

 

Hình 2.5. (a) Bôi tê bề mặt.

 

Các thuốc tê tại chỗ loại ester (benzocain), với nồng độ có thể lên đến 20% thì khó hấp thu hơn và ít khi gây quá liều nhưng cũng phải sử dụng 1 lượng ít. Tê tại chỗ nên được bôi ít nhất trong 2 phút, có hiệu quả trên niêm mạc hơn là trên nướu dính. Đặt 1 miếng gạc ngay trên vị trí bôi tê để tránh tê lan ra hoặc nuốt phải thuốc tê (H2.5b).

 

Hình 2.5. (b) Đặt miếng gạc 2x2cm tại vị trí bôi tê.

 

Kim gây tê thường được phân loại thành: dài (32 mm), ngắn (22 mm) và rất ngắn (10 mm), với đường kính từ 23 – 30 gauge (số càng lớn kim càng nhỏ).

Các loại kim khác nhau thường không gây đau khác nhau (Flanagan, 2007).

Thuận lợi của kim đường kính lớn thường là kháng gãy, khó biến dạng và áp lực bơm ít hơn. Có thể chích tê bằng kim ngắn nếu độ dày mô < 20 mm (Viện răng trẻ em Mĩ, 2014).

Kim 27 gauge thường được các bác sĩ thích sử dụng để gây tê vùng hàm dưới cho trẻ hơn là kim 30 gauge. Hướng mặt vát của kim về phía xương hay không về phía xương hàm dưới đều không ảnh hưởng đến kết quả tê tủy răng (Steinkruger, 2006).

Việc làm ấm dung dịch thuốc tê từ nhiệt độ phòng sang nhiệt độ cơ thể trước khi chích không cho thấy tác dụng làm giảm đau (Ram, 2000).

 

 

Gây tê vùng hàm dưới ở trẻ em

Kim 27 gauge thường được khuyên sử dụng cho gây tê vùng. Kim dài thường dễ có nguy cơ chích vào mạch máu, dẫn đến nguy cơ biến dạng hoặc gãy kim do những phản ứng tránh né từ trẻ (H2.6).

 

Hình 2.6. So sánh kim dài 27 gauge với kim ngắn cùng đường kính khi gây tê vùng hàm dưới ở trẻ 8 tuổi chứng minh sự phù hợp của kim ngắn.

 

Yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất giúp hạn chế quá liều là tốc độ bơm thuốc tê.

Khuyến cáo nên bơm hết một ống thuốc tê trong vòng 60 giây (Webb, 2012).

Lỗ gai Spix thường nằm dưới mặt phẳng nhai đối với răng sữa và ngang mức mặt phẳng nhai ở trẻ khoảng 8.5 tuổi (H2.7).

 

Hình 2.7. Xương hàm dưới ở trẻ 8 tuổi cho thấy lỗ gai Spix ngang mức mặt phẳng nhai.

 

Trẻ càng lớn thì chiều cao cành đứng xương hàm dưới càng tăng, nên kim phải dịch chuyển lên cao hơn khi đâm. Đối với những người có khuôn mặt ngắn hoặc bệnh nhân lớn tuổi, vị trí đâm kim ở cách xa mặt phẳng nhai hơn là ở những bệnh nhân có khuôn mặt dài và bệnh nhân trẻ tuổi.

Vị trí trước sau của lỗ gai Spix là từ 1/2 đến 2/3 chiều rộng cành đứng, tính từ bờ trước cành đứng. Đâm kim đi quá lỗ gai Spix thường gây thất bại (Malamed, 2011).

Khi gây tê vùng hàm dưới, bác sĩ đặt ngón cái tại hõm hậu hàm, là chỗ lõm nhất bờ trước cành đứng và đặt ngón trỏ vào bờ sau cành đứng (ở ngoài miệng).

Ngón trỏ và ngón cái có thể đổi vị trí cho nhau tùy theo sở thích của bác sĩ. Hướng ống chính về phía góc miệng đối diện, ống chích song song với mặt phẳng nhai theo khoảng cách tương ứng với độ tuổi. Đâm kim tới 2/3 khoảng cách giữa ngón cái và ngón trỏ (H2.8).

 

Hình 2.8. (a) Kĩ thuật gây tê vùng hàm dưới ở trẻ với ngón cái đặt ở hõm hậu hàm. (b) Ngón trỏ đặt ở bờ sau cành đứng. (c) Ống chích nằm ngang mức mặt phẳng nhai ở trẻ 8 tuổi. (d) Hình ảnh vị trí ngón cái (tính cả độ dày mô mềm) và đâm kim đến 2/3 khoảng cách giữa ngón cái và ngón trỏ.

 

Nguồn: Handbook of Clinical Technique in Pediatric Dentistry – Jane A. Soxman.