August 8, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Phẫu thuật cắt thắng (frenectomy)

Trong nhiều trường hợp thực hiện hàm giả toàn bộ ở hàm trên hay điều trị chỉnh nha ở người trẻ đòi hỏi phải cắt bỏ thắng môi, má hoặc lưỡi nếu chúng gây cản trở (H10.72).

Hình 10.72. Thắng môi hàm trên quá dày.

 

Ở hàm dưới, thắng lưỡi cũng có thể gây vấn đề, ví dụ như dính lưỡi, hoàn toàn hay không hoàn toàn (H10.73).

Hình 10.73. Thắng lưỡi ngắn gây dính lưỡi.

 

Thắng lưỡi bám vào sàn miệng hoặc niêm mạc xương ổ, khi thắng lưỡi quá ngắn gây hạn chế vận động lưỡi và khó khăn trong việc phát âm.

Cắt thắng môi hàm trên

Cắt thắng môi thường dễ và các bác sĩ tổng quát hoàn toàn thực hiện được, với nhiều kĩ thuật khác nhau. Kĩ thuật được áp dụng nhiều nhất là sử dụng 2 kẹp cầm máu.

Sau khi gây tê thì kéo môi trên lên, dùng 2 kẹp cầm máu cong để kẹp vào thắng môi, nhằm giữ cố định bờ trên và bờ dưới thắng (H10.74 và 10.75).

Hình 10.74. Trường hợp cắt thắng môi bám thấp điển hình do yêu cầu chỉnh nha.

 

Hình 10.75. Cố định bờ trên và bờ dưới thắng môi bằng cách kẹp 2 kẹp cầm máu.

 

Sau đó kéo căng môi ra hơn nữa rồi dùng dao rạch về phía sau 2 kẹp cầm máu, trước tiên rạch phía sau cây kẹp phía dưới, rồi đến rạch phía sau cây kẹp phía trên (H10.76 – 10.78).

Hình 10.76. Vị trí đầu tiên của đường rạch là từ phía sau của cây kẹp cầm máu ở dưới.

 

Hình 10.77. Bước tiếp theo là rạch từ phía sau của cây kẹp cầm máu ở trên.

 

Hình 10.78. Sau khi cắt xong.

 

Nếu thắng môi quá dày và có khe hở quá rộng giữa 2 răng cửa thì thường cắt bỏ luôn phần mô mềm giữa và sau 2 răng cửa này (H10.79).

Hình 10.79. Loại bỏ phần niêm mạc dày lên ở giữa và ở sau 2 răng cửa.

 

Thực hiện khâu vết thương sau khi đã dùng kéo để làm giảm căng mô quanh bờ tổn thương (H10.80 – 10.82).

HÌnh 10.80. Dùng kéo tỉa mô để làm giảm căng mô quanh bờ tổn thương.

 

Hình 10.81. Mũi khâu đầu tiên ở ngay chính giữa tổn thương.

 

Hình 10.82. a. Khâu tiếp các mũi rời dọc theo tổn thương. b. Hình ảnh lành thương sau 3 tháng.

 

Cắt thắng lưỡi

Có thể được thực hiện bằng kĩ thuật có sử dụng hoặc không sử dụng kẹp cầm máu.

Kĩ thuật có sử dụng kẹp cầm máu

Sau khi gây tê thì lưỡi được kéo lên trên và lui sau bằng 1 mũi khâu xuyên qua đầu lưỡi. Sau đó dùng 1 cây kẹp cầm máu thẳng, kẹp vào khoảng 1/3 giữa theo chiều dọc của thắng, song song với sàn miệng (H10.83).

Hình 10.83. a. Thắng lưỡi cần được cắt bỏ. b. Kéo lưỡi lên bằng 1 mũi khâu xuyên qua đầu lưỡi, kẹp cầm máu thằng được kẹp vào 1/3 giữa thắng, song song với sàn miệng.

 

Thực hiện rạch theo kẹp cầm máu, đầu tiên là rạch ở phía trên, sau đó đến phía dưới kẹp (H10.84, 10.85).

Hình 10.84. Đường rạch trước hết được bắt đầu phía trên kẹp. Lưỡi dao luôn luôn tiếp xúc sát với bề mặt của kẹp cầm máu.

 

Hình 10.85. Bước thứ 2 của đường rạch là từ bên dưới kẹp cầm máu, cũng tương tự đường rạch ở trên.

 

Dùng kéo tỉa mô làm giảm căng mô xung quanh bờ tổn thương rồi khâu lại (H10.86 – 10.88).

Hình 10.86. Sau khi cắt xong.

 

Hình 10.87. Làm giảm căng mô bên dưới bờ tổn thương.

 

Hình 10.88. Khâu lại.

 

Kĩ thuật không sử dụng kẹp cầm máu

Kéo căng lưỡi lên, sau đó dùng dao tạo các đường rạch hướng về phía đáy lưỡi, trước hết là ở vùng lưỡi dính, tiếp theo là phía bên kia. Sau khi thắng lưỡi lỏng lẻo ra thì kéo căng lưỡi lên trên và ra sau hơn nữa để tiếp tục cắt tiếp phần thắng còn lại. Sau khi cắt xong thì khâu lại tương tự như trên (H10.89 – 10.93).

Hình 10.89 và 10.90. Kéo lưỡi lên bằng 1 mũi khâu xuyên qua đầu lưỡi.

 

Hình 10.91. Cắt bỏ thắng lưỡi bằng các đường rạch hướng về phía đáy lưỡi.

 

 

Hình 10.92. Dùng kéo tỉa mô để làm giảm căng mô xung quanh bờ tổn thương.

 

Hình 10.93. Khâu lại.

 

Do thắng lưỡi luôn nằm gần với các tĩnh mạch lưỡi và ống dẫn tuyến dưới hàm nên khi phẫu thuật phải hết sức cẩn thận.

Nguồn: Oral Surgery – Fragiskos D. Fragiskos.