October 29, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Phục hình trên nướu xâm lấn tối thiểu – xu hướng mới dần thay thế phục hình dưới nướu truyền thống

Các phục hình trên nướu xâm lấn tối thiểu giúp cho các bác sĩ lâm sàng điều trị dễ dàng hơn, giúp bảo tồn mô răng thật, từ đó đảm bảo sức khỏe của bệnh nhân, đạt được thẩm mĩ tối ưu hơn và tuổi thọ phục hình cũng được kéo dài hơn (H2.1, H2.2).

Hình 2.1. (a) Răng tổn thương với miếng trám amalgam cũ, lớn. (b) Nướu không hề bị xâm phạm trong quá trình mài sửa soạn onlay, mô răng được mài tối thiểu.

 

(c) Mô nướu lành mạnh quanh onlay.

 

(d) Răng bị tổn thương mất chất nghiêm trọng.

 

(e) Sau khi mài sửa soạn tối thiểu và (f) sau khi gắn phục hình.

 

(g) Phục hình nhìn từ mặt nhai.

 

Hình 2.2. (a) Mài sửa soạn veneer trên nướu ở 2 răng cửa giữa HT. (b) Mô nướu khỏe mạnh sau khi hoàn tất phục hình.

 

Nhu cầu về thẩm mĩ của bệnh nhân ngày càng cao đòi hỏi phải sử dụng các vật liệu cùng màu răng ngày càng nhiều. Vào những năm đầu tiên khi mới được giới thiệu, phục hình dán vấp phải nhiều thách thức trong nha khoa vì tiên lượng kém và để lại 1 số biến chứng như nhạy cảm sau khi dán, gãy vỡ phục hình, nên ban đầu việc sử dụng nó còn bị hạn chế. Dần dần theo thời gian, nhiều loại vật liệu mới ra đời được cải thiện đặc tính dán, cùng với sự nhận thức sâu sắc hơn về những khả năng tiềm tàng chưa được hiểu kĩ trước đó, đặc biệt là đối với phục hình trên nướu, đã cho phép cách thức phục hình này ngày càng phổ biến hơn.

Nhiều bác sĩ nghĩ rằng phục hồi mão răng truyền thống dễ thực hiện hơn phục hồi dán bán phần, nhưng sự thật là ngược lại. Mài sửa soạn phục hồi trên nướu là chìa khóa quyết định sự đơn giản của các loại phục hình dán này. Những yêu cầu nghiêm ngặt về lưu giữ cơ học đều được giảm bớt, vì sự kết dính các phục hình dán không đòi hỏi nhiều về hình thái lưu giữ, do đó quá trình mài sửa soạn cũng đơn giản hơn rất nhiều (H2.6).

Hình 2.6. (a) Mài sửa soạn onlay theo lối truyền thống, đảm bảo sự lưu giữ từ các thành, góc phải chính xác. (b) So sánh giữa onlay lưu giữ bằng cơ học đòi hỏi phải mài nhiều mô răng với (c) onlay dán, cho thấy việc mài đơn giản hơn và bảo tồn mô răng hơn.

 

Việc xâm phạm và gây tổn thương nướu răng trong quá trình mài sửa soạn cũng được hạn chế. Tất cả những yếu tố nói trên khiến cho việc thực hiện 1 phục hình dán trên nướu trở nên bớt phức tạp hơn, thực hiện nhanh chóng hơn so với phục hình mão răng truyền thống (H2.7).

Hình 2.7. So sánh giữa (a) mài mão răng và (b) mài veneer.

 

Vì phục hình nằm hoàn toàn trên nướu nên việc gắn cement cũng dễ dàng hơn, hạn chế tối đa việc nhiễm bẩn từ máu, dịch, nước bọt trong khi dán bond và gắn cement.

Việc lấy dấu cho những phục hình dưới nướu cũng là 1 trong những bước khó khăn mà các bác sĩ phải dè chừng (H2.8).

Hình 2.8. (a) Lấy dấu cho mão răng đòi hỏi phải nhét chỉ đôi. (b) Phục hình trên nướu khiến cho việc lấy dấu rất dễ dàng mà không cần nhét chỉ, đặc biệt trong trường hợp phục hình nhiều răng.

 

Các phục hồi dưới nướu thường khó tái lập lại bằng scan kĩ thuật số, do đó với phương pháp lấy dấu kĩ thuật số thì những phục hình trên nướu thường cho kết quả tốt hơn (H2.9).

Hình 2.9. (a) Lấy dấu kĩ thuật số khó lấy được các chi tiết ở đường hoàn tất dưới nướu. (b) Mẫu scan chính xác đối với phục hình trên nướu.

 

Khi đường hoàn tất được đặt hoàn toàn trên nướu, việc thực hiện phục hình tạm cũng dễ dàng hơn vì các bờ viền đều dễ làm khô, làm sạch và dễ nhìn. Việc loại bỏ cement gắn tạm cũng dễ hơn, cho kết quả gắn tạm ổn hơn và đảm bảo mô nướu lành mạnh, đảm bảo việc gắn kết thúc được chính xác (H2.10).

Hình 2.10. (a) Mão tạm và tình trạng nướu viêm. (b) Sau khi tháo bỏ phục hình tạm thì mô nướu vẫn khỏe mạnh.

 

Đến thời điểm gắn kết thúc thì không cần phải lo lắng về việc mô nướu viêm, chảy máu nướu khó kiểm soát hay khó khăn khi nhét chỉ (H2.11, H2.12).

Hình 2.11. Việc gắn onlay với đường hoàn tất trên nướu dễ hơn do dễ cô lập và dễ nhìn.

 

Hình 2.12. Veneer trên nướu dễ cô lập và dễ gắn.

 

Việc lấy bỏ cement dư cũng rất dễ do bờ phục hình ở trên nướu, đồng thời giúp bệnh nhân vệ sinh thuận lợi hơn, đảm bảo tuổi thọ phục hình được lâu dài (H2.13).

Hình 2.13. Viêm nướu sau khi làm mão răng.

 

Nướu viêm rất hay gặp quanh bờ mão sứ kim loại (PFM), trong khi phục hồi trên nướu thì không xâm phạm đến mô nha chu (H2.14).

Hình 2.14. So sánh tình trạng nướu răng lành mạnh ở onlay R7 hàm dưới với tình trạng nướu viêm ở mão R6 hàm trên.

 

Tụt nướu cũng có thể xảy ra khi nướu bị tổn thương do mài sửa soạn phục hình dưới nướu hoặc nhét chỉ quá thô bạo, tuy nhiên đây không phải là vấn đề đối với các phục hình trên nướu (H2.15).

Hình 2.15. (a) Mô nướu lành mạnh khi thực hiện onlay với đường viền hoàn toàn trên nướu. (b) Mô nướu lành mạnh với veneer thực hiện trên nướu.

 

Kể cả khi phục hồi dán không thật sự khít sát và liên tục với mô răng thì khi đường viền trên nướu, nó cũng không gây ảnh hưởng nhiều lên mô nha chu vì bệnh nhân dễ dàng vệ sinh và làm sạch hơn so với khi phục hình dưới nướu.

Bảo tồn độ sống tủy răng cũng là 1 trong những thuận lợi của các phục hình dán trên nướu. Việc mài sửa soạn xâm lấn tối thiểu, bảo tồn cấu trúc răng lành giúp tăng tỉ lệ bảo tồn tủy (H2.16).

Hình 2.16. So sánh giữa (a) mài onlay chỉ cần mài giảm mặt nhai và (b) mài cùi răng, so với vị trí tủy răng.

 

Cuối cùng, sự bảo tồn mô răng tự nhiên và duy trì cấu trúc răng lành mạnh giúp duy trì tuổi thọ răng. Men và ngà răng tự nhiên luôn tốt hơn bất cứ loại phục hồi nào (H2.17).

Hình 2.17. So sánh việc mất mô răng giữa răng thật, onlay và mão.

 

Về mặt thẩm mĩ

Trái ngược với phương pháp truyền thống là giấu đường viền phục hình dưới nướu thì hiện nay, với việc ứng dụng các loại vật liệu có độ trong mờ (translucent) tốt đã giúp tăng độ thẩm mĩ cho các phục hình trên nướu đến tối đa

 

Những răng có độ đục (opacity) cao thì ngược lại, rất kém tự nhiên (H2.18, H2.19).

Hình 2.18. (a) Veneer trông tự nhiên như răng thật do có độ trong. (b) Các mão răng cửa nhìn mất tự nhiên do quá đục.

 

Hình 2.19. (a) So sánh độ thẩm mĩ của onlay có độ trong thích hợp (R5) với các mão R6,7. (b) Mão răng cửa nhìn mất tự nhiên do đục.

 

Độ trong (translucency) giúp tạo sự chuyển tiếp màu lí tưởng từ phục hình qua răng thật, vì ánh sáng đi xuyên qua phục hình vào đến răng. Men và ngà có chức năng như những sợi quang. Khi mão răng không có độ trong, ánh sáng không đi vào răng làm cho chân răng có vẻ tối hơn (H2.20).

Hình 2.20. (a) Chân răng trông có vẻ tối hơn với 1 mão răng đục. (b) Sự thay đổi màu sắc răng sau khi thay mão sứ kim loại bằng mão ceramic với độ trong phù hợp.

 

Nướu hồng và lành mạnh cũng là 1 trong những điều kiện cần để đảm bảo thẩm mĩ (H2.22).

Hình 2.22. Mất thẩm mĩ do nướu răng.

 

Về tuổi thọ phục hình

Nhiều tài liệu y văn đã chứng minh kết quả điều trị hoàn hảo với những phục hình inlay, onlay và veneer dán, đặc biệt khi thực hiện đúng chỉ định và kĩ thuật (H2.23).

Hình 2.23. (a) Các phục hồi onlay và veneer dán ở ca bệnh nhân mòn răng trầm trọng và (b) 16 năm sau điều trị.

 

Tuổi thọ của những mão răng sứ kim loại gần như ngắn hạn vì hầu hết các phục hình này đều bị thay thế, không những do thất bại trên lâm sàng mà còn do viêm nhiễm gây tụt nướu để lộ đường viền kém thẩm mĩ và buộc phải thay thế. Điều này có thể được hạn chế bằng cách chế tác phục hình với độ trong thích hợp và cố gắng đặt đường viền phục hình trên nướu. 

Sự hài lòng của bệnh nhân cũng là 1 trong những yếu tố để đánh giá thành công. Cần giáo dục cho bệnh nhân hiểu lợi ích cũng như tầm quan trọng của việc bảo tồn mô răng và tránh xâm hại mô nha chu khi làm phục hình.

Các phục hình sứ hoặc composite có thể dễ dàng được sữa chửa trực tiếp ngay trong miệng chứ không nhất thiết phải thay thế phục hình mới khi có vấn đề nứt vỡ nhẹ (H2.25).

Hình 2.25. Onlay sứ sau 10 năm bị bể múi xa trong. (b) Thực hiện sửa chữa trực tiếp. (c) Onlay sau khi được sửa chữa còn có thể xài được thêm vài năm nữa.

 

Những phục hình cổ điển với đường hoàn tất dưới nướu thường che lấp những tổn thương sâu thứ phát và hở bờ, do đó về lâu dài sẽ gây ra những tổn thương trầm trọng khó phục hồi lại được.

 

Nguồn: Supra-Gingival Minimally Invasive Dentistry – A Healthier Approach to Esthetic RestorationsJose-Luis Ruiz.