April 17, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Độ torque trong chỉnh nha – P2

Xem lại phần 1 tại đây.

 

Một câu hỏi quan trọng được các bác sĩ đặt ra là con số đo lượng độ torque nhất định được biểu thị như thế nào?

Câu trả lời là trong mắc cài tiêu chuẩn (tức là mắc cài không có độ), lượng torque do bẻ dây tạo ra chỉ là ước đoán. Còn trong mắc cài có độ, torque được tích hợp trong mắc cài. Sau khi gắn, đế mắc cài gần như nằm song song với mặt ngoài của răng mà nó được gắn vào. Trong mắc cài, như được giải thích trước đó, slot luôn tạo một góc so với đế mắc cài nếu có độ torque bên trong mắc cài. Vì vậy, khi đế mắc cài thẳng thì slot sẽ nghiêng một góc với đế tương đương với độ torque có bên trong mắc cài.

 

 

Hình 9. A, Mắc cài răng cửa giữa hàm trên có độ torque là +7°. Slot mắc cài mở hướng xuống dưới. Khi mắc cài không có độ, các thành slot vuông góc với đế và đế slot song song với đế mắc cài. Nhưng trong mắc cài có độ này, các thành slot tạo một góc 97° với đế mắc cài vì mắc cài có độ torque tích hợp là +7°. B, Sau khi dây làm thẳng slot. Khi slot được làm thẳng, các thành của slot song song với mặt phẳng nhai trong khi đáy của slot vuông góc với mặt phẳng nhai. Khi slot được làm thẳng, đế mắc cài tạo góc bằng lượng torque bên trong mắc cài. C, Mắc cài răng cửa giữa hàm trên có torque +7° gắn ở giữa mặt ngoài răng cửa giữa. Vì slot mắc cài thẳng nên đế đã quay 1 góc bằng với độ torque bên trong. Đế mắc cài được gắn vào mặt ngoài cũng sẽ làm cho thân răng tạo góc hoặc nghiêng bằng với lượng torque có sẵn của mắc cài. Xem lại cách đo độ torque trong phần 1.

 

 

Về mặt lý thuyết, slot mắc cài  có thể được làm thẳng hoàn toàn khi đi dây có kích thước phù hợp qua nó. Đối với mắc cài có slot 0,022×0,028 inch (từ nay sẽ được gọi tắt là 22 x 28) sẽ là dây 0,021,5×0,028 inch.

Andrew đã sử dụng phần giữa mặt ngoài của thân răng lâm sàng trong mặt phẳng thẳng đứng để đo độ torque. Vì vậy, đế mắc cài nên được gắn ở giữa mặt ngoài của thân răng lâm sàng nếu cần đưa lượng torque vào bên trong răng.

 

Một khía cạnh quan trọng khác về lượng torque được thể hiện đó là độ nghiêng của răng đó trước khi điều trị. Lấy ví dụ về răng cửa giữa hàm trên. Chính giữa mặt ngoài của răng cửa này nên có độ nghiêng 7° so với “mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai” ở khớp cắn lý tưởng. Nếu mắc cài răng cửa giữa hàm trên có độ torque +7° được gắn vào răng cửa giữa đã có sẵn độ nghiêng lý tưởng 7° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai thì sẽ không có độ torque nào được được sinh ra khi đi dây.

Nhưng nếu cùng một răng cửa đó mà lại có độ nghiêng -7° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai, như trong ca hạng II chi 2; thì độ torque +14° sẽ được biểu hiện khi đi dây phù hợp để làm cho răng cửa nghiêng +7°. Trường hợp ca hạng II chi 1, điểm FA (đã giải thích trong phần 1) của răng cửa giữa hàm trên có thể nghiêng đến +20° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai. Trong trường hợp này, mắc cài răng cửa giữa có độ torque +7° sẽ tạo ra độ torque -13° cho răng cửa giữa khi đi dây để cuối cùng đạt được độ nghiêng của răng cửa là +7°.

 

Hình 10. Độ nghiêng trước điều trị của răng ảnh hưởng đến lượng torque do mắc cài thể hiện. A. Một răng cửa hàm trên có độ nghiêng lý tưởng. Việc gắn mắc cài vào một răng cửa có cùng độ nghiêng như độ torque tích hợp trong mắc cài sẽ không dẫn đến bất kỳ độ torque nào, tức là mắc cài sẽ hoạt động như một mắc cài có torque bằng 0. B, Mắc cài có torque +7° gắn vào răng cửa giữa hàm trên có độ nghiêng ban đầu rất lớn. Ở răng cửa hàm trên, slot mắc cài phải hướng xuống dưới nếu nó muốn sinh ra torque dương. Trong ca hạng II chi 1, độ nghiêng của răng cửa hàm trên đã lớn từ đầu. Gắn một mắc cài độ torque +7° trên một răng cửa đã có độ nghiêng 20° (với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai) sẽ dẫn đến hướng mở mắc cài là hướng lên trên. Khi đi dây chữ nhật đủ lớn, mắc cài này sẽ sinh ra torque âm thay vì torque dương. Về lý thuyết, mắc cài sẽ sinh ra độ torque -13° trên răng để độ nghiêng cuối cùng của răng cửa sẽ là +7°. C, Một răng cửa giữa hàm trên nghiêng -7° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai. Mắc cài có độ torque +7° khi gắn trên răng cửa này sẽ làm cho slot mở hướng xuống dưới, do đó khi đi dây vào sẽ sinh ra torque dương. Khi toàn bộ độ torque trong mắc cài được thể hiện hoàn toàn, độ nghiêng cuối cùng của răng sẽ trở thành +7°, tức là đã có sự thay đổi tổng thể là +14° về độ nghiêng của răng cửa.

 

 

Từ phần thảo luận ở trên, rõ ràng là nếu toàn bộ torque trong mắc cài được sinh ra khi đi dây có kích thước phù hợp thì độ nghiêng cuối cùng của các răng cửa sẽ giống nhau bất kể bắt đầu từ độ nghiêng như thế nào.

Nhưng trên thực tế, việc đi dây đủ kích thước vào slot mắc cài là không thể vì dây đó sẽ tạo thêm ma sát khiến cơ chế trượt trở nên khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.

Hơn nữa, dây đúng kích thước sẽ quá cứng và vừa khít đến mức không thể dễ dàng đi vào hay lấy ra khỏi mắc cài bằng tay, hơn nữa cũng sẽ tạo ra lực nặng gây đau đớn cho bệnh nhân hoặc có thể làm bung mắc cài.

Vì vậy trong chỉnh nha lâm sàng, chỉ có thể sử dụng dây có kích thước nhỏ hơn slot. Khi đi các dây có kích thước nhỏ hơn, độ torque sinh ra từ mắc cài sẽ thay đổi, phụ thuộc vào các yếu tố sau:

1) Khoảng chuyển động tự do của dây trong slot (độ play của dây)

2) Khoảng cách giữa các mắc cài

3) Độ cứng của dây

4) Sự mất lực của dây

5) Chất liệu của mắc cài

6) Vị trí của mắc cài trên răng theo chiều dọc

7) Độ nghiêng của các răng lân cận

8) Hướng di chuyển của răng

9) Độ nhô của slot mắc cài

 

Dưới đây ta sẽ đi sâu vào từng yếu tố một để bác sĩ có cái nhìn rõ hơn về tương tác mắc cài-dây cung khi làm chỉnh nha:

1) Khoảng chuyển động tự do của dây trong slot (độ play của dây)

Khi sử dụng dây có kích thước nhỏ hơn đi vào slot thì sẽ có 1 khoảng hở giữa các thành slot với dây cung. Khoảng hở này sẽ gây ra sự xoay hoặc chuyển động tự do nhất định của dây trong slot (gọi là độ play của dây).

 

 

Hình 11. Vị trí của dây trong slot khi đi dây có kích thước nhỏ hơn kích thước slot. Kích thước slot là 22 x 28. A, Dây 16×22. B, Dây 19 x 25. C, Dây 21 x 25. Kích thước của dây càng nhỏ thì khoảng cách giữa thành khe và dây càng lớn, tức là độ play của dây càng lớn.

 

Chính vì khoảng hở này khiến cho độ torque có sẵn trong mắc cài không được thể hiện đầy đủ khi đi dây. Để biểu thị lượng torque cần thiết chúng ta phải đưa torque hoặc lực xoắn vào dây bằng kìm bẻ dây hoặc phải dùng mắc cài có torque bên trong lớn hơn để bù trừ lại độ play của dây.

 

Torque tạo ra trên dây khi bẻ dây bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau.

a) Dung sai chế tạo của slot và dây

b) Góc vát của slot và dây

c) Cơ chế cơ học được áp dụng

d) Kiểu buộc dây

e) Khiếm khuyết ở slot mắc cài

f) Tuổi thọ của mắc cài

Sau đây là chi tiết phân tích từng yếu tố nói trên:

1a) Dung sai chế tạo của slot và dây

Kích thước của các slot mắc cài thường không chính xác như nhà sản xuất công bố. Nhiều nhà sản xuất cố tình làm slot hơi lớn hơn để trên lâm sàng, bác sĩ có thể đưa dây kích thước đúng vào slot mắc cài một cách dễ dàng. Thông thường, dung sai sản xuất ở slot 0,008″ dao động từ 0,0182″ đến 0,0192″ trong khi ở slot 0,022″, nó dao động từ 0,023″ đến 0,030″.

Slot mắc cài lớn hơn giá trị quy định sẽ làm cho độ play của dây trong slot lớn hơn, dẫn đến lượng torque bị mất đi nhiều hơn.

Giống như kích thước của slot mắc cài, kích thước của dây cũng không hoàn toàn chính xác và có nhiều biến đổi về kích thước của dây hơn so với kích thước slot. Dây cung thường được các nhà sản xuất làm nhỏ hơn để giúp bác sĩ dễ dàng nhét dây vào slot nhưng dẫn đến mất torque. Dung sai của nhà sản xuất đối với dây cung dao động từ 0,0178″ đối với dây 0,018″ và 0,0215″ đối với dây 0,022″.

Các đặc tính vật lý như độ cứng của dây và slot cũng khác nhau giữa các nhà sản xuất vì tính chất của vật liệu bị ảnh hưởng bởi quá trình sản xuất và các yếu tố bổ sung được thêm vào để nâng cao đặc tính. Điều này cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lượng torque sinh ra.

Do sự khác nhau về đơn vị đo lường nên có sự khác biệt về kích thước slot mắc cài và dây cung giữa châu Âu và châu Mỹ. Mắc cài slot 22 do Châu Âu sản xuất có kích thước quá khổ 4,22%, dây cung của châu Âu cũng có kích thước quá khổ so với dây của Mỹ. Sử dụng mắc cài do châu Âu sản xuất chung với dây cung do Mỹ sản xuất có thể dẫn đến tăng torque.

 

1b) Góc vát của slot và dây cung

Việc vát mép của slot (bo tròn đế hoặc thành slot) và dây cung (bo tròn cạnh của dây cung) được nhà sản xuất thực hiện nhằm giúp dây có thể dễ dàng đưa vào slot. Việc vát mép dây làm giảm kích thước dây và do đó tăng độ play của dây trong slot dẫn đến làm mất torque nhiều hơn.

 

Hình 12. A,Vát mép các thành slot. B, Dây được làm vát cạnh nên làm giảm kích thước của dây. C, Một dây vát được lắp vào slot mắc cài. Độ play (độ hở) của dây tăng lên do độ vát của dây.

 

Độ vát của dây ảnh hưởng đến torque nhiều hơn độ vát của slot.

 

1c) Cơ chế cơ học được áp dụng

Không nên sử dụng dây với cơ chế trượt (sliding) cho ứng dụng torque vì có lớp bề mặt bị mất đáng kể. Kìm bẻ torque có thể làm biến dạng dây cung tạo ra độ torque ít hơn nên tốt nhất là thêm lượng torque bổ sung khi bẻ torque.

 

 

Hình 13. A, Các cạnh của dây bị nhám và tròn đi do kìm bẻ torque. Việc mất các cạnh của dây hình chữ nhật sẽ dẫn đến tăng độ hở (độ play) của dây trong slot. B, Một dây cung dùng được 7 tháng với cơ học sliding. Do ma sát giữa dây và mắc cài, lớp bề mặt của dây bị mất làm giảm kích thước dây. 

 

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message