April 17, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Độ torque trong chỉnh nha – P3

Xem lại phần 1 và phần 2 tại đây.

 

Nhắc lại, khi đi các dây có kích thước nhỏ hơn, độ torque sinh ra từ mắc cài sẽ thay đổi, phụ thuộc vào các yếu tố sau:

1) Khoảng chuyển động tự do của dây trong slot (độ play của dây).

2) Khoảng cách giữa các mắc cài.

3) Độ cứng của dây.

4) Sự mất lực của dây.

5) Chất liệu của mắc cài.

6) Vị trí của mắc cài trên răng theo chiều dọc.

7) Độ nghiêng của các răng lân cận.

8) Hướng di chuyển của răng.

9) Độ nhô của slot mắc cài.

 

Yếu tố 1 đã được nói đến trong phần trước, tiếp theo là các yếu tố còn lại.

 

2) Khoảng cách giữa các mắc cài

Khi khoảng cách giữa các mắc cài tăng lên, độ cứng của dây càng giảm nên torque sinh ra sẽ ít hơn. Mắc cài gắn mặt lưỡi thường có khoảng cách giữa các mắc cài giảm đi nên torque lớn hơn so với mắc cài gắn ở mặt ngoài.

 

Hình 19. Mắc cài gắn mặt lưỡi thường có khoảng cách giữa các mắc cài giảm đi nên torque lớn hơn so với mắc cài gắn ở mặt ngoài.

 

 

3) Độ cứng của dây

Dây cứng hơn thì torque sẽ được thể hiện bằng sự tương tác của dây cung-mắc cài.

Dây thép không gỉ sẽ thể hiện nhiều torque hơn dây TMA hoặc dây NiTi cùng kích thước. Nhưng vấn đề với dây cứng hơn là chúng khó nhét vào slot và tạo ra lực mạnh.

Cho nên cách tốt nhất là ban đầu sử dụng dây mềm rồi sau đó sử dụng dây cứng hơn có cùng kích thước khi cần chuyển động torque ở dây có kích thước lớn hơn. Điều này cũng giúp ngăn vỡ mắc cài trong trường hợp mắc cài bằng sứ.

 

4) Sự mất lực của dây

Ngưỡng lực tối thiểu luôn là cần thiết để gây ra sự di chuyển của răng.

Khi dây bị xoắn trong giới hạn đàn hồi của nó hoặc dây bị xoắn trong slot do mắc cài có torque tích hợp, dây có xu hướng trở lại hình dạng ban đầu theo thời gian. Tuy nhiên, khi dây trở lại hình dạng ban đầu, lực sẽ giảm dần. Sự mất lực trong dây cung được tìm thấy theo trình tự SS >NiTi>TMA.

 

5) Chất liệu mắc cài

Mắc cài bằng nhựa và sứ kém hiệu quả trong việc tạo ra torque so với mắc cài bằng thép không gỉ. Mắc cài bằng titan tạo torque hiệu quả hơn mắc cài bằng thép không gỉ.

 

6) Vị trí gắn mắc cài theo chiều dọc

Andrew đã sử dụng tâm của trục dài thân răng lâm sàng (điểm FA) để đo giá trị torque của từng răng. Vì răng không có hình thái đồng nhất trong toàn bộ chiều dài thân răng lâm sàng nên vị trí mắc cài sẽ ảnh hưởng đến việc thể hiện torque.

Trên thực tế, mắc cài sẽ chỉ biểu thị torque được tích hợp và làm nghiêng bề mặt của răng nơi nó được gắn với độ nghiêng tương đương với độ torque được tích hợp.

 

Hình 20. Hình thái mặt ngoài của răng có thể được chia thành ba vùng. Vùng 2 là giữa thân răng lâm sàng. Đây là vùng mà Andrew đã đo độ nghiêng của răng và chủ trương gắn mắc cài ở vùng giữa này. Vùng 1 là từ nướu đến vùng giữa (còn gọi là vùng nướu). Vùng này có torque dương lớn hơn vùng 2. Nếu cần gắn mắc cài ở vùng này thì nó phải có torque tăng. Giả sử vùng 1 này có torque +12°, vùng giữa có torque +7°. Gắn mắc cài có torque +7° vào vùng nướu (vùng 1) này sẽ dẫn đến kết quả là vùng 1 nghiêng +7° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai. Vì vùng 1 giảm đi 5° độ nghiêng nên sẽ tự động giảm độ nghiêng của vùng 2, khiến cho vùng 2 chỉ còn nghiêng 2° so với mặt phẳng vuông góc với với mặt phẳng nhai. Vì vậy, nói chung là việc gắn mắc cài về phía nướu sẽ dẫn đến tạo torque âm nhiều hơn vì chúng ta lấy phần giữa của thân răng lâm sàng làm tham chiếu để đo độ nghiêng. Vùng 3 nằm ở vị trí gần về phía mặt nhai. Nếu muốn gắn mắc cài vào vùng này thì mắc cài phải có torque âm để giữ cho các phần khác của mặt ngoài thân răng có độ nghiêng tối ưu. Gắn mắc cài có torque dương ở vùng 3 sẽ dẫn đến độ nghiêng dương của vùng răng này, do đó làm tăng độ nghiêng dương của các vùng khác của thân răng. Giả sử mắc cài có torque +7° được gắn ở vùng 3 (vùng 3 có độ nghiêng -5° so với mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng nhai). Khi đó, độ nghiêng vùng 3 sẽ trở thành +7° khiến cho vùng 2 sẽ trở thành +19°.

 

 

Đối với răng cửa hàm dưới, khi gắn mắc cài gần về phía nướu hơn thì độ nghiêng âm của phần giữa thân răng lâm sàng sẽ tăng lên.

Ngược lại cũng đúng khi gắn mắc cài gần về phía mặt nhai (rìa cắn) hơn, độ nghiêng dương của phần giữa thân răng lâm sàng tăng lên. 

 

Hình 21. Vùng torque tương tự ở cung răng dưới. Vùng giữa là vùng 2 thường có độ nghiêng âm khi ở khớp cắn lý tưởng. Vùng 1 là vùng nướu có độ nghiêng âm ít hơn vùng 2 trong khi vùng 3 là vùng rìa cắn thì có độ nghiêng âm lớn hơn vùng 2. Gắn mắc cài lên vùng 1 sẽ làm tăng độ nghiêng âm của vùng 1 do đó cũng làm tăng độ nghiêng âm của vùng 2 và 3. Nhưng gắn mắc cài lên vùng 3 sẽ làm giảm độ nghiêng âm của nó, do đó làm giảm độ nghiêng âm của toàn bộ thân răng (tức là tăng độ nghiêng dương của thân răng).
Trong hình là mắc cài được gắn ở các độ cao khác nhau trên răng nanh. Mắc cài gắn gần về nướu nhiều hơn sẽ làm tăng độ nghiêng âm của răng và mắc cài gắn gần về phía rìa cắn nhiều hơn sẽ làm tăng độ nghiêng dương của răng.

 

Vì các răng cửa hàm dưới thường có bề mặt thân răng phẳng nên vùng rìa cắn của các răng cửa hàm dưới nhiều khi có độ nghiêng tương tự như vùng giữa.

Mestriner nghiên cứu về răng hàm dưới đã phát hiện ra rằng sự thay đổi chiều cao 1 mm của mắc cài từ mặt nhai về phía nướu sẽ tạo ra torque khoảng 2° ở các răng cửa, 3° ở răng nanh và 8° ở răng cối nhỏ + răng cối lớn.

Răng cửa có ít thay đổi rõ rệt trên bề mặt hơn răng nanh và răng cối nhỏ. Vùng giữa của răng cửa rộng hơn trong khi răng nanh và răng cối nhỏ thì nhỏ hơn.

 

Hình 22. A, Mặt ngoài răng cửa giữa hàm trên. B, Mặt ngoài răng nanh. Mặt ngoài răng cửa ít lồi hơn răng nanh nên sự thay đổi vị trí mắc cài trên răng nanh có tác động rõ nét hơn đến sự thay đổi độ nghiêng so với răng cửa. Sự thay đổi sẽ lớn hơn nếu mắc cài được đặt ở nướu vì vùng nướu có độ dốc lớn.

 

7) Độ nghiêng của các răng lân cận

Torque trong mắc cài được thể hiện khi dây đi qua nhiều mắc cài. Nếu dây kích thước đúng được sử dụng thì toàn bộ torque tích hợp trong mắc cài sẽ được biểu thị. Nhưng vì ta không sử dụng dây có kích thước như vậy để dễ dàng về mặt cơ học nên độ nghiêng của các răng lân cận và torque trong mắc cài của các răng lân cận cũng ảnh hưởng đến torque mắc cài đang quan tâm.

Ví dụ, torque âm tăng lên ở răng nanh sẽ làm tăng torque dương ở răng cửa bên do phản lực, nếu có sự tác động của dây trong quá trình tác dụng torque.

 

8) Hướng di chuyển của răng

Hướng di chuyển của răng cũng ảnh hưởng đến torque nếu có độ play của dây. Di gần và làm lún răng cửa sẽ làm chân răng nghiêng trong (lingual root torque) trong khi di xa và làm trồi sẽ làm chân răng nghiêng ngoài (labial  root torque).

 

9) Độ nhô của slot

Khi độ nhô của mắc cài tăng thì khoảng cách ngang giữa slot và tâm cản tăng nên biểu thức torque của mắc cài giảm.

Khi lựa chọn mắc cài, cần lưu ý đến độ nhô của mắc cài. Nên chọn mắc cài ít nhô hơn nhưng đủ chắc chắn để chịu được tải trọng chỉnh nha.

 

Hình 23. Bộ mắc cài hàm trên của ba nhà sản xuất khác nhau với độ nhô tăng dần từ A đến C. Bộ A có độ nhô ít nhất nên sẽ hiệu quả nhất trong việc biểu thị torque.

 

 

Tương tác giữa tip và torque lên hiệu ứng bánh xe (wagon wheel effects)

Andrew đã chỉ ra sự tương tác giữa độ tip và độ torque của các răng trước hàm trên, đó là khi tăng độ torque của các răng cửa hàm trên thì các chân răng sẽ xích lại gần nhau. Vì các răng cửa hàm trên có độ tip dương (thân răng nghiêng gần) nên việc tăng torque sẽ dẫn đến giảm độ tip của chúng. Tăng 4° torque sẽ làm giảm đi 1° tip ở các răng cửa hàm trên.

Sự tương tác giữa tip và torque này được minh họa trên một sợi dây hình chữ nhật có chứa các đoạn dây thẳng đứng. Khi tăng torque thì phần đuôi các đoạn dây xích lại gần nhau hơn và toàn bộ cụm dây trông giống như bánh xe ngựa nên hiện tượng này được gọi là hiệu ứng bánh xe ngựa (wagon wheel effects).

 

Hình 24. Minh họa hiệu ứng bánh xe ngựa. Các dây dọc tượng trưng cho bốn răng cửa hàm trên. Người ta nhận thấy rằng tăng torque dương 4° sẽ làm giảm độ tip đi 1°.

 

 

Mặc dù hiệu ứng bánh xe ngựa đã được đề xuất cho các răng cửa hàm trên nhưng nó cũng đúng với các răng cửa hàm dưới vì các răng cửa hàm dưới cũng nằm trên một khu vực hình bán nguyệt với kích thước nhỏ hơn.

 

Ý nghĩa lâm sàng của hiệu ứng bánh xe:

Độ tip bị mất do tăng torque phải được cung cấp trong mắc cài. Nếu torque răng cửa giữa hàm trên tăng từ 7° lên 12° (trong các ca tương quan răng cửa hạng III) thì cần tăng độ tip răng cửa lên 1,25°. Khớp cắn thích hợp và kết quả thẩm mỹ không thể đạt được nếu độ tip không đủ ở các răng cửa hàm trên.

 

Bác sĩ lâm sàng thường gặp phải vấn đề về các chân răng cửa bị túm lại gần nhau ở giai đoạn điều trị cuối cùng. Nhiều khi nguyên nhân là do vị trí gắn mắc cài theo trục không đúng. Để khắc phục vấn đề này, có thể tăng hoặc giảm độ torque thích hợp hoặc gỡ bỏ và gắn lại mắc cài ở vị trí phù hợp hơn.

 

Nguồn: Orthodontic brackets selection, placement and debonding – Dr. Haris Khan.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message