Nguyên tắc cơ bản khi chỉ định đóng khe thưa bằng veneer là đánh giá được khả năng gai nướu dịch chuyển về phía rìa cắn.

Khe hở giữa các răng do răng thưa.
Thiết kế đường viền phục hình là việc cực kì quan trọng khi chỉ định mặt dán sứ veneer để đóng khe thưa. Câu hỏi đầu tiên cần đặt ra trong đầu khi thiết kế phục hình là đặt đường hoàn tất phía cổ răng mặt ngoài ở đâu và đường hoàn tất phía bên ở đâu.
Từ trước đến giờ ta vẫn luôn cho rằng, khe hở giữa các răng càng lớn thì đường hoàn tất càng phải được đặt sâu xuống dưới nướu.
Quan điểm này không hoàn toàn chính xác, bởi vì khi các răng càng thưa nhau thì gai nướu càng tròn chứ không nhọn. Khi gai nướu tròn thì độ sâu khe nướu càng giảm. Cần nhớ rằng, mô mềm có được hình dạng và vị trí của nó là nhờ các cấu trúc mô cứng nâng đỡ, bất kể đó là xương, mô răng tự nhiên hay vật liệu phục hồi.
Trước khi bắt tay vào mài sửa soạn răng thì cần phải đo độ sâu khe nướu ban đầu. Độ sâu dưới nướu an toàn nhất mà ta có thể lấn xuống là một nửa độ sâu khe nướu ban đầu (ví dụ độ sâu khe nướu ban đầu 2 mm thì có thể đặt đường viền dưới nướu trong phạm vi 1 mm là an toàn nhất).
Khi các răng quá thưa thì mục đích điều trị là thiết kế phục hình sao cho có độ cong lồi tự nhiên chứ không phải lấn đường hoàn tất xuống quá sâu dưới nướu. Đến khi kết thúc điều trị, ta thấy đường hoàn tất có thể nằm sâu hơn một nửa độ sâu khe nướu như đã nói, đó là do có sự dịch chuyển của gai nướu về phía rìa cắn, làm tăng độ sâu khe nướu.
Nếu gai nướu thấp (tròn) thì độ sâu khe nướu giảm. Nếu như có răng kế bên với diện tiếp xúc bình thường thì gai nướu thường sẽ cao 4.5 mm và độ sâu khe nướu khoảng 2.5 mm. Trong trường hợp mất răng kế bên thì chiều cao gai nướu sẽ giảm còn 3 mm, dẫn đến độ sâu khe nướu giảm còn 1 mm. Trong cả 2 ví dụ kể trên, chiều cao phần bám dính vẫn là 2 mm.


Trong trường hợp răng thưa hoặc có tình trạng “tam giác đen” thì độ sâu khe nướu ban đầu thường rất nhỏ, ví dụ là 1 mm thì đường hoàn tất nên được đặt dưới nướu 0.5 mm.



Sau khi gắn phục hình (veneer) và sự dịch chuyển gai nướu xảy ra, ta có thể thấy khe nướu được tái lập lại với độ sâu bình thường là 2.5 mm. Lúc này, vị trí đường hoàn tất sẽ là 2 mm dưới nướu.
Sự dịch chuyển gai nướu về phía thân răng là do độ cong lồi của phục hình giúp làm giảm phần khoảng không gian kẽ răng. Chiều cao gai nướu là tổng chiều cao nướu dính cộng với độ sâu khe nướu.



Phục hình sẽ thiết lập lại một diện tiếp xúc mới. Phần phía chóp (hay phía cổ răng) của diện tiếp xúc nên nằm ở vị trí đỉnh gai nướu tương lai, tức là cách mào xương ổ khoảng 4.5 mm về phía thân răng.
Nếu răng thưa và độ sâu khe nướu ban đầu bình thường khoảng 2.5 mm thì đừng mong là gai nướu sẽ dịch chuyển về phía thân răng chỉ bằng cách tạo độ cong lồi cho phục hình. Thay vào đó ta phải thiết lập vị trí diện tiếp xúc mới nằm ở vị trí gai nướu hiện tại.
Không những phải đánh giá khoảng cách giữa các thân răng mà quan trọng không kém là phải đánh giá phần chân răng bên dưới khoảng nửa độ sâu khe nướu. Hình thái giải phẫu của răng nhỏ dần khi càng về phía nướu và khoảng cách giữa các chân răng tăng lên tùy thuộc vào hình thái (độ nghiêng) của chân răng.
Khi khe hở giữa các răng càng lớn thì đường hoàn tất phải phía bên phải được đặt mở rộng về phía mặt trong (mặt lưỡi) nhiều hơn. Cụ thể là:
- Nếu khe hở 1 mm thì đặt đường hoàn tất về phía trong (mặt lưỡi) 1 mm so với vị trí tiếp xúc mong muốn.
- Nếu khe hở 2 mm thì đặt đường hoàn tất về phía trong (mặt lưỡi) 2 mm so với vị trí tiếp xúc mong muốn.
- Nếu khe hở 3 mm thì đặt đường hoàn tất về phía trong (mặt lưỡi) 3 mm so với vị trí tiếp xúc mong muốn.
Đường hoàn tất phía bên bắt buộc phải mở rộng về phía mặt trong so với gai nướu.
Bất cứ khi nào phân vân không biết nên đặt ở đâu thì cũng nên đặt càng vào phía trong càng tốt. Một lỗi mà nhiều nhà lâm sàng hay mắc phải là mài đường hoàn tất không đủ mở rộng vào phía trong, nên khi gắn phục hình sẽ thấy phần cánh phục hình tạo 1 góc 90 độ so với mặt răng.



👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.


Bài viết liên quan
Phục hình cho răng đã điều trị nội nha – P2
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P6
Thẩm mỹ và cơ học sinh học trong chỉnh nha – P12 – Đánh giá thẩm mỹ trong chỉnh nha