April 18, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Tiểu phẫu răng khôn lệch gần

Phân loại

Tác giả phân loại răng khôn lệch gần dựa vào độ sâu của phần lệch (so với mặt phẳng nhai) và góc độ nghiêng (H3-1) như sau:

 

Hình 3-1. Phân loại răng khôn lệch gần dựa vào độ sâu phần lệch và góc độ nghiêng gần. A, Nghiêng nhẹ; B, Trung bình và C, Nghiêng nhiều.

 

Mức độ khó khi nhổ răng tăng dần theo thứ tự A < B < C và 1 < 2 < 3 < 4. Độ khó còn phụ thuộc vào trục R7.

 

Hình 3-2. Ảnh hưởng của trục R7: (1) R7 nghiêng gần, (2) R7 mọc thẳng và (3) R7 nghiêng xa.

 

Khi R7 càng nghiêng về phía xa nhiều thì vùng lẹm tạo thành càng lớn khiến cho việc nhổ răng càng khó khăn hơn.

Ngoài ra còn những yếu tố khác ảnh hưởng đến độ khó khi nhổ răng khôn gồm: độ nghiêng ngoài/trong (H8-11), vị trí bờ trước của cành đứng xương hàm dưới (H8-1), số lượng chân răng (H17-1) và tương quan với ống thần kinh răng dưới.

 

Hình 8-11. (32) Vị trí răng khôn theo chiều ngoài – trong (nhìn từ mặt nhai).

 

 

Hình 8-1. Vị trí răng khôn so với bờ trước của cành đứng xương hàm dưới.

 

Hình 17-2. Số lượng và cấu trúc chân răng khôn gây khó khăn cho việc nhổ răng.

 

Ca lâm sàng 1

 

Hình 4-1. R48 mọc lệch gần.

 

Hình 4-2. Đánh giá thân răng trên phim quanh chóp cho thấy góc độ nghiêng khoảng 70 độ về phía gần, tiêu xương một ít bên dưới thân răng.

 

Trường hợp này tương ứng với phân loại lệch gần B4 (hình 3-1).

Tiên lượng trước khi nhổ răng:

  • Mức độ lệch: trung bình.
  • Xương che phủ: ít.
  • Trục răng: nghiêng gần 70 độ.
  • Chân răng: 2 chân và không có bất thường về hình dạng.
  • Thời gian dự kiến: 40 – 60 phút.
  • Cần thiết lật vạt: có.
  • Cần thiết mở xương: có.
  • Cắt răng: có, vùng cổ răng.

Việc lật vạt để tạo phẫu trường rõ ràng trước khi nhổ răng rất quan trọng. Sử dụng lưỡi dao #15 rạch một đường khoảng 1.5 cm đi từ phía sau hướng về phía R7. Vị trí đường rạch nằm giữa đường (gờ) chéo trong và đường chéo ngoài, hơi lệch về phía ngoài, và chỉ thực hiện rạch sau khi đã sờ xác định nền xương bên dưới.

Tiếp theo rạch một đường rạch ngang khoảng 0.5 cm từ chính giữa mặt ngoài R7 đi về phía gần, rạch hướng xuống dưới và ra trước. Cắt và rạch các dây chằng vòng quanh cổ răng bằng lưỡi dao #12.

Bắt đầu lật vạt niêm mạc màng xương từ vị trí đường rạch ngang bằng cây bóc tách.

 

 

Hình 4-4. Vị trí đường rạch. Bên (P) là đường rạch thông dụng, bên (T) là đường rạch để nhổ răng khôn nghiêng nhẹ, không đòi hỏi phải mở xương. Khi đó đường rạch ngang (0.5 cm) không cần sát về phía gần R7.

 

Loại bỏ xương mặt ngoài che phủ thân răng. Loại bỏ xương cho đến dưới đường viền thân răng để không làm ảnh hưởng đến việc cắt thân răng.

 

Hình 4-5. Xương mặt ngoài sau khi lật vạt.

 

Hình 4-6. Mở xương mặt ngoài.

 

Lật nướu ở phía mặt trong và kéo ra để không làm vướng khi sử dụng mũi khoan cắt răng (H4-6).

Dùng mũi khoan cắt thân răng theo chiều ngoài trong. Chú ý phải hơi nghiêng mũi khoan về phía xa, nếu không thì phần thân răng sau khi cắt sẽ không thể lấy ra được do vướng vùng lẹm phía xa thân R7, đặc biệt là khi R7 nghiêng xa.

 

Hình 4-7. Nghiêng tay khoan về phía xa.

 

Cắt thân răng từ ngoài vào đến trong bằng cách nghiêng mũi khoan hướng vào trong. Không được cắt hoàn toàn đến phần thân răng mặt trong.

 

 

 

Phần thân răng chưa được cắt bằng mũi khoan sẽ được nạy gãy bằng lực nhẹ.

 

 

Hình 4-11. Đặt đầu phẳng của lưỡi nạy quay về phía gần để nạy gãy phần thân răng vừa cắt.

 

Hình 4-12. Nạy phần thân răng đã gãy rời lên bằng cách nạy từ bên dưới.

 

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message