April 17, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Dụng cụ và vật liệu nội nha – bác sĩ đã đủ đồ chơi cần thiết?

Dụng cụ thăm khám

 

Hình 7.1. Bộ thăm khám cơ bản gồm: gương, thám trâm, cây đo túi (periodontal probe) và kẹp gắp.

 

Hình 7.2. EndoIce dùng cho test thử tủy lạnh.

 

Hình 7.3. Máy thử tủy bằng điện.

 

Thiết bị phóng đại

 

Hình 7.4. Sử dụng kính hiển vi nha khoa có thể giúp phát hiện những đường nứt bên trong buồng tủy và chân răng.

 

Dụng cụ cách ly (cô lập răng)

 

Hình 7.5. Các loại kẹp đê (clamp) khác nhau được sử dụng khi đặt đê cao su.

 

Hình 7.6. Bộ kit đặt đê cao su gồm: kìm giữ clamp (clamp holder), kìm bấm lỗ, khung căng đê và đê (rubber dam).

 

Trong một vài trường hợp, việc đặt đê cao su không đủ để cô lập răng.

Khi đó, các vật liệu hỗ trợ như OraSeal hoặc OpalDam (Ultradent Products, Inc., South Jordan, Utah, USA) có thể được bơm vào xung quanh khe hở giữa clamp (kẹp đê) và răng để tăng khả năng cô lập răng (H7.7).

 

Hình 7.7. Sử dụng vật liệu tăng khả năng cô lập răng sau khi đã đặt đê cao su. Hình bên trái sử dụng OraSeal putty (Ultradent) và hình bên phải sử dụng OpalDam (Ultradent).

 

Trường hợp mất mô răng quá nhiều thì nên tái tạo lại thân răng để dễ dàng đặt cách ly, có thể sử dụng GIC hoặc composite (H7.8).

 

Hình 7.8. Hình ảnh minh họa việc tái tạo lại thân răng bằng composite sau khi loại bỏ miếng trám cũ, nhằm dễ dàng cách ly răng khi thực hiện điều trị tủy.

 

Nếu việc đặt đê cao su có thể làm ảnh hưởng đến phục hình hoặc phục hồi hiện có thì có thể sử dụng dụng cụ cố định đê, chẳng hạn như Wedjets (Coltene/Whaledent GmbH) thay thế cho kẹp đê (clamp) (H7.9).

 

Hình 7.9. Đặt đê cao su mà không sử dụng clamp, thay vào đó là Wedjet  để tránh làm ảnh hưởng đến phục hình toàn sứ hiện có.

 

Dụng cụ điều trị

 

Hình 7.10. Bộ dụng cụ điều trị nội nha (không phẫu thuật).

 

Hình 7.11. Thước đo nội nha.

 

Hình 7.12. Cây nhồi (plugger) bằng tay với nhiều kích thước khác nhau.

 

Thiết bị xác định chiều dài

Ngày nay, máy định vị chóp (EAL – electronic apex locators) được coi là giúp xác định chiều dài nội nha chính xác hơn so với phim X quang 2D thường quy. Nên sử dụng phối hợp cả hai để đạt kết quả tốt nhất.

 

Dụng cụ mở tủy

Mũi khoan kim cương được sử dụng cho những răng mang phục hình sứ/toàn sứ. Mũi khoan carbide sử dụng cho phục hình/phục hồi bằng kim loại (amalgam, vàng, sườn kim loại) và composite.

Các mũi khoan phổ biến là mũi tròn kim cương #2, 4 và 6, mũi tròn carbide #4 và mũi carbide #1157.

Sau khi đã mở vào buồng tủy thì sử dụng mũi khoan đầu tận cùng an toàn (endo Z) để tiếp tục nhằm tránh nguy cơ làm thủng sàn tủy.

Đôi khi còn cần thêm một số dụng cụ hỗ trợ nhằm xác định miệng (lỗ vào) ống tủy (H7.13).

 

 

Hình 7.13. Dụng cụ hỗ trợ xác định miệng ống tủy. Hình bên trái là các mũi tròn cán dài với nhiều kích thước khác nhau, hình bên phải là mũi rung siêu âm (Ultrasonic tips với đầu tròn kim cương.

 

Việc xác định miệng ống tủy đôi lúc sẽ gặp khó khăn do sự canxi hóa.

Để loại bỏ những cấu trúc canxi hóa này, có thể sử dụng mũi Munce, Mueller hoặc LN (Thụy Sĩ). Đây là những loại mũi khoan cán dài, có nhiều kích thước khác nhau, sử dụng với tay khoan chậm và không xịt nước nên có thể tạo ra nhiều mảnh vụn mô.

Đầu rung siêu âm cũng là dụng cụ đắc lực giúp xác định miệng ống tủy. Các chất bơm rửa, thuốc nhuộm cũng có thể được sử dụng hỗ trợ.

Nhỏ một giọt NaOCl vào buồng tủy rồi quan sát bằng kính hiển vi sẽ nhìn thấy những chỗ nổi bọt và “sáng lên” chính là miệng ống tủy.

 

Dụng cụ làm sạch và tạo hình (sửa soạn) ống tủy

 

Hình 7.14. Máy nội nha không dây.

 

Kích thước trâm là kích thước đầu làm việc nhân 100 lần (ví dụ trâm 25 sẽ có kích thước đầu tận cùng là 25/100 = 0.025 mm). Mã màu của trâm được quy định dựa trên kích thước trâm. Ngoại trừ 3 trâm số nhỏ nhất là 6, 8 và 10 thì mã màu đều được lặp lại (H7.15).

 

Hình 7.15. Mã màu trâm dựa theo kích thước trâm.

 

Hình 7.16. Dạng xoắn và thiết diện cắt ngang của các loại trâm. Lưu ý các trâm reamer, K-file và K-flex số nhỏ có hình dạng khác với trâm cùng loại số lớn.

 

Độ thuôn là sự gia tăng đường kính trâm sau mỗi 1 mm, bắt đầu từ phần đầu nhọn cho đến phần gần cán. Độ thuôn của trâm không thay đổi trên toàn bộ phần chiều dài làm việc (thường là 16 mm).

Bảng 7.1. Kích thước đầu nhọn của trâm và đường kính được xác định dựa theo độ thuôn.

 

Một vài loại trâm máy có độ thuôn biến đổi, nghĩa là độ thuôn không còn cố định đối với toàn bộ phần chiều dài làm việc và thay đổi trên từng đoạn khác nhau của trâm.

Một khái niệm quan trọng trong việc mở tủy và khi sửa soạn 1/3 trên và 1/3 giữa đó là tạo lối vào thẳng (straight-line access).

Hệ thống ống tủy thường có hình dạng tương tự với đồng hồ cát. Việc tạo lối vào thẳng giúp loại bỏ những đoạn cong ở phần ống tủy trên và giữa, chỉ để lại đoạn cong ở phần chóp.

Trước đây H-file thường được sử dụng nhiều để làm loe ống tủy. Hiện nay thì sử dụng mũi Gates – Glidden, Peeso reamers để mở rộng 2/3 trên. Gates – Glidden và Peeso reamers còn được sử dụng để khoan ống mang chốt sau khi kết thúc điều trị tủy.

 

Hình 7.17. Trái: mũi Gates – Glidden. Chú ý phần tip không có đầu cắt. Phải: mũi Pesso, cứng hơn và tác dụng mạnh hơn Gates – Glidden. Cả hai đều sử dụng để làm rộng đoạn trên ống tủy.

 

Bảng 7.2. Kích thước mũi Gates – Glidden và Pesso theo mã số.

 

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message