November 27, 2022

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Cẩm nang gây tê trong nha khoa

 

 

 

 

……

Liều thuốc tê được trình bày dưới dạng miligam thuốc trên một đơn vị trọng lượng cơ thể – tính bằng miligam trên kilogam (mg/kg) hoặc miligam trên pound (mg/lb).

Ống thuốc tê nha khoa được làm đầy bằng cơ học và có thể ghi nhận sự thay đổi rất nhỏ về thể tích từ ống thuốc tê này sang ống thuốc tê khác. Trên thực tế, thể tích trung bình của dung dịch thuốc tê trong ống thuốc tê nha khoa ở Hoa Kỳ là 1.76 mL. Khi tính liều tối đa của thuốc tê cho một bệnh nhân nhất định thì nên sử dụng thể tích 1.8 mL.

Các loại thuốc tê có sẵn trên lâm sàng (articaine, bupivacaine, lidocaine, mepivacaine và prilocaine) sẽ được thảo luận chi tiết dưới đây…

 

 

…..

Lidocain 2% không có epinephrine (hay dung dịch 2% thuần) không còn được bán trong ống thuốc tê do tác dụng làm giãn mạch. Tác dụng giãn mạch này dẫn đến: (1) nồng độ lidocain trong máu cao hơn, làm tăng nguy cơ phản ứng có hại và (2) tăng tưới máu trong vị trí tiêm thuốc. Rất ít chỉ định lâm sàng cho việc sử dụng lidocain 2% không có chất co mạch trong thực hành nha khoa. Vào tháng 8 năm 2011, lidocain 2% không có epinephrine (2% thuần) trong ống thủy tinh đã bị rút khỏi thị trường nha khoa ở Bắc Mỹ.

Việc sử dụng epinephrine làm giảm lưu lượng máu (tưới máu), dẫn đến giảm chảy máu ở vị trí bơm thuốc. Do sự giảm tưới máu này, thuốc tê được hấp thụ vào hệ thống tim mạch chậm hơn, do đó nó tồn tại ở vị trí tiêm lâu hơn và làm tăng cả độ sâu và thời gian tê: khoảng 60 phút tê tủy và 3-5 tiếng tê mô mềm.
Kết quả là nồng độ thuốc tê trong máu cũng giảm. Nồng độ epinephrine 1:50,000 tương đương với 20 μg/mL, hoặc 36 μg epinephrine trên mỗi ống thuốc tê. Liều epinephrine tối đa là 200 μg cho bệnh nhân khỏe mạnh. Liều tối đa cho những người nhạy cảm với epinephrine (ví dụ một số bệnh nhân có bệnh lý tim mạch [ASA độ 3] và bệnh nhân cường giáp [ASA độ 3]) là 40 μg mỗi lần hẹn.
Chỉ nên sử dụng lidocaine 2% với nồng độ epinephrine 1: 50,000 để cầm máu.

…….

 

Kể từ khi được giới thiệu vào thị trường nha khoa Hoa Kỳ vào tháng 5 năm 2000, articaine ngày càng trở nên phổ biến. Năm 2018, articaine là thuốc tê nha khoa được sử dụng nhiều thứ hai ở Hoa Kỳ (39,3% thị phần) (sau lidocaine). Người ta đã khẳng định rằng articaine có thể khuếch tán qua các mô mềm và mô cứng một cách đáng tin cậy hơn các loại thuốc khác. Bên cạnh đó người ta còn nhận thấy, sau khi thâm nhập vùng hàm trên, đôi khi articaine có thể gây tê mô mềm khẩu cái, giúp làm giảm nhu cầu tiêm tê khẩu cái.

Các báo cáo về dị cảm sau khi dùng thuốc tê trở nên thường xuyên hơn sau khi articaine được đưa vào sử dụng ở Hoa Kỳ. Phần lớn các trường hợp được báo cáo xảy ra chủ yếu liên quan đến thần kinh lưỡi. Câu hỏi về dị cảm liên quan đến việc sử dụng thuốc tê tại chỗ được đề cập trong các chương sau.
Articaine hydrochloride với epinephrine bị chống chỉ định ở những người nhạy cảm với thuốc tê loại amide (ít gặp hoặc không có) và ở những người nhạy cảm với sulfite (chẳng hạn như một số bệnh nhân hen suyễn dạng dị ứng), vì công thức của nó với epinephrine có chứa chất chống oxy hóa sodium metabisulfite.
Articaine được FDA liệt kê là thuốc nhóm C cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Thận trọng khi dùng cho phụ nữ đang cho con bú vì không biết liệu articaine có bài tiết qua sữa hay không. Khi dùng articaine cho phụ nữ đang cho con bú, FDA khuyến cáo khoảng thời gian 4 tiếng sau khi tiêm tê thì nên “vắt bỏ sữa” để đảm bảo rằng trẻ sơ sinh không nhận được thuốc qua sữa mẹ. Không khuyến khích sử dụng articaine cho trẻ em dưới 4 tuổi vì không có đủ dữ liệu. Các ống thuốc tê articaine bán trên thị trường có chứa “1.7 mL”, khác với những loại khác là 1.8 mL (hình 1.5). 

……

…….

 Sách được biên dịch từ cuốn: Handbook of Local Anesthesia – 7th edition – Stanley F. Malamed.

Liên hệ admin để mua sách tại đây.