June 13, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Dụng cụ phẫu thuật Implant cơ bản – P1

Cục cắn (bite block)

Làm từ cao su với thiết kể có răng cưa, để cho các răng tựa vào mà không bị trượt, rất hữu ích cho bệnh nhân khi há miệng trong những thủ thuật điều trị lâu (H2.1).

 

Hình 2.1. Cục cắn giúp bệnh nhân há miệng, đặc biệt khi thủ thuật điều trị kéo dài.

 

Cục cắn có dạng hình thang, đầu nhỏ đặt về phía sau, mặt phẳng kín thì đặt về phía má, giúp dễ dàng đẩy tới lui để điều chỉnh. Nếu cần há to thì đẩy cục cắn lùi về phía sau.

Cục cắn cho người lớn có nhiều kích thước (S, M, L) và có cỡ riêng cho trẻ em. Bệnh nhân miệng nhỏ có thể dùng size trẻ em. Chèn gạc cũng có thể được áp dụng thay cho cục cắn.

 

Cây nạo (curette)

Là dụng cụ có 2 đầu tác dụng cong, dùng để loại bỏ các mảnh vụn mô mềm trong xương (H2.2).

 

Hình 2.2. Cây nạo (curette) được sử dụng nạo mô mềm khỏi bề mặt xương.

 

Đầu tác dụng có dạng hình muỗng (thìa) với cạnh bén và có nhiều đường kính khác nhau. Kích thước cây nạo thường dùng trong ghép xương là 3 – 5 mm. Cây nạo có thể thẳng (Molt) hoặc cong (Lucas, Miller), thường dài từ 7 – 9 inch (H2.3).

 

Hình 2.3. Bộ nạo sử dụng trong nâng xoang.

 

Thủ thuật nạo chóp răng (periapical curettage) là dùng cây nạo để loại bỏ mô bệnh từ mô xương, xung quanh 1 chóp chân răng, làm nhẵn bề mặt chóp răng mà không cần cắt chóp.

Cây nạo chóp răng khác với cây nạo nha chu về cả thiết kế lẫn chức năng. Những bộ nạo nha chu phổ biến gồm Gracey, Kramer-NevinsTurgeon.

 

Nạy

Dùng cho nhổ răng với nhiều đầu tác dụng dày mỏng, to nhỏ, thẳng hay khuỷu khác nhau tùy thuộc vào kích thước chân răng (H2.4).

 

Hình 2.4. Nạy với nhiều kích thước khác nhau.

 

Periotome là loại nạy rất mỏng, dùng để bóc tách lớp dây chằng nha chu hoặc dùng trong trường hợp nhổ răng không sang chấn, đặc biệt ở vùng răng thẩm mĩ.

 

Periotome.

 

Kìm, kẹp (forcep)

Forcep là dụng cụ dùng để kẹp, giữ mô cứng hoặc mô mềm. Phân loại forcep tiểu phẫu gồm có: kềm giữ xương (bone-holding forcep), kẹp phẫu tích (dressing forcep), kẹp cầm máu (hemostat), kẹp mô (tissue forcep) và kềm nhổ răng (extraction forcep) (H2.5, 2.6).

 

Hình 2.5. Kẹp gắp, ít khi được sử dụng trong phẫu thuật.

 

 

 

Hình 2.6. Kềm nhổ răng.

 

Kềm nhổ răng (extraction forcep)

Được sử dụng để ôm chặt răng, càng gần về phía chóp càng tốt, tuy nhiên vẫn còn nhiều loại kềm nhổ răng với các mục đích khác. Mặt trong của mỏ kềm cong lõm, phần lưỡi có cạnh bén giúp tách dây chằng nha chu (H2.7).

 

Hình 2.7. Kềm nhổ răng bắt chặt răng sát về phía chóp răng nhất có thể.

 

Kẹp cầm máu (hemostat)

Để kẹp, ép và bóp chặt mạch máu, ngăn chảy máu (H2.8).

 

Hình 2.8. Kẹp cầm máu (hemostat).

 

Kẹp cầm máu được thiết kế dạng cong, thẳng với nhiều kích thước khác nhau.

 

Kẹp giữ kim (needle holder)

Kim khâu có nhiều kích thước và hình dạng khác nhau. Kẹp kim với phần cán có khóa, mỏ kẹp to và ngắn để giữ và hướng dẫn kim trong lúc khâu (H2.9).

 

Hình 2.9. Kẹp giữ kim với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau.

 

Mỏ kẹp giữ kim ngắn hơn và to khỏe hơn mỏ kẹp cầm máu (hemostat), mặt trong mỏ kẹp có nhiều răng cưa để giữ kim không bị tuột. Các khía răng cưa này chồng chéo nhau, trái với kẹp cầm máu có các khía song song nhau.

Do sự khác biệt này mà kẹp cầm máu không nên sử dụng thay thế kẹp giữ kim.

Nên giữ kim khoảng 2/3 khoảng cách từ đầu kim đến đuôi kim, cho phép đủ kim để xuyên qua mô, đồng thời giữ kim ở vị trí dày nhất, hạn chế sự bẻ cong kim. Thông thường thì kích thước kim giúp chọn kích thước kẹp giữ kim, kim càng nhỏ thì phải lựa chọn kẹp kim có mỏ nhỏ để tránh trơn trượt.

 

Cây bóc tách (nạy màng xương – periosteal elevator)

Cây bóc tách Molt số 9 được sử dụng nhiều nhất để lật vạt niêm mạc và màng xương khỏi bề mặt xương sau khi rạch (H2.10).

 

Hình 2.10. Cây bóc tách Molt #9 dùng trong lật vạt màng xương.

 

Cây Molt số 9 có 2 đầu, 1 đầu nhỏ, nhọn và 1 đầu to, phẳng hơn.

Thông thường, đầu nhọn được dùng để bắt đầu nâng vạt niêm mạc lên khỏi bề mặt xương, sau đó đầu to sẽ tiếp tục tách vạt niêm mạc ra khỏi xương bên dưới. Bác sĩ có thể sử dụng 2 đầu luân phiên nhau tùy theo vị trí phẫu thuật. Cây bóc tách cũng có thể được dùng để banh vạt.

 

Banh miệng (retractor)

Dùng để kéo môi, má, lưỡi hoặc kéo vạt ra để quan sát phẫu trường rõ hơn (H2.11).

 

Hình 2.11. Các loại banh miệng khác nhau.

 

Banh miệng có 2 loại là loại tự giữ (phần cán có khóa) và loại giữ bằng tay. Banh miệng Minnesota có thể vừa để banh má và vạt niêm mạc màng xương cùng lúc (H2.12A).

 

Hình 2.12. A. Banh miệng Minnesota.

 

Trước khi lật vạt thì dùng cây Minnesota kéo má ra, sau khi lật vạt thì đặt cây banh lên xương và kéo vạt ra.

Cây banh Selding dài hơn và thẳng hơn cây Minnesota, sử dụng chủ yếu cho những vạt nhỏ. Dụng cụ dùng để banh lưỡi được sử dụng nhiều là cây Weider (H2.12B).

 

Hình 2.12. B. Banh lưỡi Weider.

 

Cây Weider có phần tác dụng hình trái tim, có các rãnh và các lỗ giúp kéo lưỡi ra khi cần. Khi sử dụng cây Weider thì phải chú ý không đặt lui về phía sau quá mức vì có thể gây nôn.

 

Đọc tiếp phần 2 tại đây.

 

Nguồn: Implant Dentistry A Practical Approach – Arun K. Garg.