Xem lại phần 1 tại đây và phần 2 tại đây.
ỨNG DỤNG CẦM MÁU TRONG THỰC HÀNH NHA KHOA
Cầm máu và xuất huyết
Cầm máu
Cầm máu là quá trình sinh lý có tác dụng giữ máu bên trong mạch máu và nếu chúng bị tổn thương sẽ tạo ra sự hình thành nút cầm máu để ngăn chặn sự thoát mạch. Nghe có vẻ rất đơn giản nhưng đó là một quá trình phức tạp bao gồm ba thành phần chính: thành mạch (nội mạc), tiểu cầu và cơ chế đông máu.
Quá trình cầm máu có thể được chia thành:
Cầm máu nguyên phát: xảy ra sau chấn thương ban đầu và bắt đầu bằng sự co mạch được điều hòa bởi nội mô, một chất co mạch có nguồn gốc từ nội mô, và cả bởi các cơ chế phản xạ thần kinh. Đồng thời, chất nền ngoại bào (ECM) được bộc lộ để tạo điều kiện cho tiểu cầu bám dính vào nội mạc và tạo thành nút cầm máu thông qua quá trình kết tập tiểu cầu.
Cầm máu thứ phát: cơ chế đông máu được kích hoạt bởi sự tương tác của fibrinogen và các sản phẩm do tiểu cầu tiết ra, kích hoạt thrombin chuyển đổi fibrinogen hòa tan thành fibrin không hòa tan có khả năng liên kết chéo để tạo thành khối đông máu thứ cấp ổn định.
Xuất huyết
Xuất huyết có thể được định nghĩa là sự thoát mạch của máu do vỡ mạch máu, nguyên nhân có thể do chấn thương, xơ vữa động mạch, xói mòn do viêm hoặc tân sinh.
Có nhiều thông số để phân loại xuất huyết, bao gồm: vị trí, mạch máu liên quan, nguyên nhân, kích thước, mức độ và thể tích thoát mạch.
Cầm máu tại phòng khám nha khoa
Chảy máu trong miệng nhẹ là hiện tượng thường gặp trong thực hành nha khoa, nhưng khi cường độ và thời gian tăng lên một cách tự nhiên thì được xếp vào loại xuất huyết. Cầm máu là chìa khóa để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và để tiếp tục thực hiện được thủ thuật.
Kiểm soát tình trạng chảy máu ở phòng khám nha khoa tương đối khó khăn vì chảy máu không kiểm soát được có thể dẫn đến tình trạng cấp cứu y tế. Để khởi đầu tốt, cần phải khai thác kỹ tiền sử bệnh nhân, baop gồm cả tiền sử cá nhân và/hoặc tiền sử gia đình về nghi ngờ rối loạn cầm máu. Phải đánh giá kĩ bệnh nhân có tiền sử bệnh về máu, bệnh gan mãn tính hoặc giảm tiểu cầu.
Việc cầm máu trong nha khoa là rất quan trọng và chúng ta phải luôn lưu ý đến những bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị bầm tím và chảy máu để ngăn ngừa bất kỳ biến chứng nào ở những bệnh nhân mắc bệnh đông máu di truyền như bệnh máu khó đông, bệnh Von Willebrand hoặc bệnh đông máu mắc phải như bệnh nhân thiếu vitamin K hoặc dùng thuốc chống tổng hợp hoặc thuốc chống đông máu.
Kiểm soát cầm máu trong phẫu thuật miệng
Việc nhổ răng hoặc bất kỳ thủ thuật phẫu thuật răng miệng nào đều có thể gây chảy máu nhiều và hành động đầu tiên chúng ta phải thực hiện để kiểm soát đó là đè ép chặt và đủ lâu. Ngoài ra còn có các biện pháp tại chỗ như chườm đá để giúp co mạch, ngăn ngừa phù nề cũng như chảy máu. Các phương pháp điện như đốt điện hoặc laser CO2 cũng thường được sử dụng.
Các vật liệu sau đây có thể được sử dụng để kiểm soát chảy máu trong phẫu thuật miệng:
– Dung dịch nhôm clorua, sắt sunfat và axit tannic: đây là những chất làm se, hoạt động bằng cách kết tủa protein và tạo ra sự tắc nghẽn cơ học của dòng máu chảy.
– Gel (có thể tự tiêu): có thể ở dạng bột, tấm hoặc sponge. Chúng tạo điều kiện cho sự kết tập tiểu cầu, ổn định cục máu đông, được hấp thu (tiêu) nhanh chóng và hoàn toàn, do đó vết thương không cần phải mở ra lại.
Ví dụ phổ biến là sponge Gelatamp của Coltene được làm từ gelatine tạo bọt và bạc (keo) phân tán mịn. Bạc có hiệu quả kháng khuẩn và do đó lý tưởng để ngăn ngừa sự phát triển của nhiễm trùng vết thương. Cách sử dụng rất dễ: sau khi nhổ răng xong, cắt miếng sponge có kích thước phù hợp, đặt vào bên trong ổ răng, khâu lại là xong!

– Sponge collagen: collagen tự tiêu được đặt lên vùng bị chảy máu nhẹ đến trung bình và nén trong 2 đến 5 phút, cơ chế hoạt động của nó là bẫy các tiểu cầu trong cấu trúc của nó, thúc đẩy sự kết dính (ngưng tập tiểu cầu).
Sponge collagen Octocolagen của Clarben là lựa chọn tốt cho mục đích này vì chúng cũng có cấu trúc xốp tạo điều kiện cho việc hấp thụ chất lỏng tốt hơn, đồng hóa gấp 35 lần trọng lượng của chúng và có thể tự tiêu hoàn toàn sau 15 ngày.
Kiểm soát cầm máu trong nha khoa phục hình thẩm mỹ
Trong lĩnh vực phục hình, việc xử lý mô nướu, cầm máu và kiểm soát dịch kẽ răng là chìa khóa để đạt được phục hình khít kín, không bị rò rỉ hay hở kẽ.
Các chất cầm máu trong nha khoa phải đáp ứng được ba chức năng sau đây:
1. Kiểm soát cầm máu bằng cách bít tại chỗ các mao mạch biểu mô bị tổn thương.
2. Kiểm soát dịch khe nướu nhờ giảm tính thấm mao mạch ở mức độ biểu mô khe nướu.
3. Co nướu, làm giảm tính đàn hồi của các sợi collagen của mô liên kết nướu.
Việc sử dụng các dung dịch cầm máu giúp cải thiện đáng kể chất lượng liên kết và duy trì tính toàn vẹn cũng như tuổi thọ của phục hồi. Thuốc cầm máu được sử dụng phổ biến nhất là epinephrine, tuy nhiên, do tác dụng phụ tại chỗ và trên tim mạch, ngày nay nhiều nha sĩ có xu hướng sử dụng các dung dịch như sắt sunfat hoặc nhôm clorua.
SẮT SUNFAT: Phương thức hoạt động của nó là phản ứng hóa học của máu với các ion sắt và sunfat làm cho các protein trong máu kết tụ lại với nhau và tạo thành cục máu đông.
Sắt sulphate có thể được sử dụng cho nhiều thủ thuật nha khoa khác nhau, bao gồm nha khoa phục hồi, phục hình cố định và điều trị nha chu.
Lưu ý khi lấy dấu, sắt sunfat hoặc nhôm sunfat khi được sử dụng để tẩm vào chỉ co nướu có thể ức chế quá trình trùng hợp của silicon, do đó trước khi lấy dấu, phải đảm bảo rửa sạch vùng đó và loại bỏ các dung dịch này hoàn toàn. Sản phẩm sắt sulphate được sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng đó là ViscoStat™ của Ultradent.

Mô tả sản phẩm:
Thuốc cầm máu ViscoStat™ là dung dịch cầm máu chứa sắt sulfat 20% có độ pH xấp xỉ 1,0. ViscoStat™ được thiết kế để sử dụng trong cầm máu các mức độ khác nhau của chảy máu miệng hoặc dịch khe nướu trong quá trình điều trị nha khoa và phẫu thuật miệng bao gồm phục hình cố định, phẫu thuật phục hồi và điều trị nha chu.
Chống chỉ định:
- Không sử dụng cho những bệnh nhân dị ứng với sắt sulfat.
- Để tránh mô mềm bị đổi màu xanh, không được trộn các chất cầm máu sulfat sắt này với epinephrine hoặc bất kỳ chỉ co nướu có tẩm epinephrine nào khác.
- Tránh tiếp xúc với quần áo. Nếu tiếp xúc với quần áo thì phải sử dụng Astringedent Spot Remover.
Sử dụng:
1) Vừa bơm dung dịch từ từ vừa chà xát mạnh vào mô đang chảy máu.
2) Khi xuất hiện khối máu đông sẫm màu, có thể làm sạch bằng tay xịt hơi/nước. Lặp lại cho đến khi máu ngừng chảy.
3) Tách nướu bằng cách nhét chỉ co nướu có kích thước phù hợp vào khe nướu. Để đạt hiệu quả, cho một lượng nhỏ dung dịch cầm máu vào đĩa đựng và ngâm chỉ co nướu trong đó trước khi đặt chỉ (thời gian ngâm khuyến cáo là khoảng 5-10 phút).
4) Tháo chỉ co nướu ra và làm sạch răng bằng axit photphoric 35% trong 2-3 giây, sau đó xịt nước rửa sạch rồi lấy dấu, phục hồi dán trực tiếp hoặc gắn phục hồi sau cùng.
Lưu ý: Sự đổi màu mô mềm chỉ là tạm thời.
NHÔM CLORUA: cũng là chất cầm máu giống như sắt sunfat. Ngăn chặn tình trạng chảy máu nhẹ bằng cách kết tủa các protein của mô, là một tác nhân ít gây kích ứng và có ưu điểm là giữ cho khe nướu mở hiệu quả hơn sau khi rút chỉ co nướu.
Tương tự như sắt sunfat, nhôm clorua tương tác với các vật liệu lấy dấu như polyvinyl siloxane và polyether, ức chế quá trình trùng hợp của chúng, cho nên cũng được khuyến cáo rửa thật kỹ trước khi lấy dấu.
Sản phẩm nhôm Clorua được sử dụng phổ biến là ViscoStat Clear của Ultradent.

ViscoStat Clear là gel cầm máu nhôm clorua 25% được chỉ định cho phục hình răng trước vì nó giúp loại bỏ tình trạng chảy máu nhẹ mà không để lại vết cặn, ố nâu ở viền nướu, thích hợp cho những trường hợp cầm máu ở vùng răng thẩm mỹ.
Đầu Dento-Infusor (đầu bơm có đầu tận cùng là cọ quét) được sử dụng bằng cách xoa gel vào mô, giúp cải thiện đáng kể tác dụng của nhôm clorua. Ngoài ra, chỉ co nướu Ultrapak có thể được ép trực tiếp vào gel.
Đặc điểm của Viscostat Clear:
- Ngăn chặn chảy máu nhỏ và kiểm soát dịch khe nướu.
- Không để lại cặn hoặc vết ố và dễ dàng rửa sạch.
- Không hình thành cục máu đông.
- Gel tạo điều kiện cho nhét chỉ vào khe nướu dễ hơn.
- Không ảnh hưởng đến độ bền dán
- Lý tưởng cho các khu vực có liên quan đến thẩm mỹ.
Sử dụng
- Chà xát xung quanh toàn bộ chu vi cùi răng để dung dịch chảy vào bề mặt mô chảy máu để kiểm soát chảy máu.
- Khi cầm máu xong, sử dụng tay xịt hơi/nước để làm sạch cùi răng. Kiểm tra tình trạng cầm máu. Nếu vẫn còn chảy máu xảy ra, lặp lại bước ở trên.
- Kiểm tra lại bằng tay xịt hơi/nước cho đến khi máu ngừng chảy.
- Tách nướu bằng cách nhét chỉ co nướu có kích cỡ thích hợp vào khe nướu. Để tách nướu và cầm máu tối ưu, cho một lượng nhỏ ViscoStat Clear vào đĩa đựng và ngâm chỉ co nướu vào trong đó trước khi đặt chỉ.
- Đợi 1-3 phút,thời gian tiếp xúc khuyến cáo cho ViscoStat Clear là 1-3 phút.
- Rút chỉ co nướu ra, rửa sạch, kiểm tra tình trạng cầm máu và lấy dấu.
Nếu trước đó không ngâm chỉ vào dung dịch thì chỉ có thể được được giữ nguyên trong quá trình phục hồi để bảo vệ mô mềm.
Lưu ý:
- Răng và các mô xung quanh phải được làm sạch hoàn toàn và loại bỏ tất cả các chất cầm máu còn sót lại và cục máu đông để tránh nhiễm bẩn ngà răng và/hoặc nền men răng, có thể gây ảnh hưởng đến độ bền dan và gây ra rò rỉ vi mô.
- Không sử dụng cho những bệnh nhân bị dị ứng với nhôm clorua hoặc nhạy cảm với hóa chất.
- Không kết hợp với các chất cầm máu hoặc hóa chất khác mà trước đó không làm sạch kỹ răng và các mô xung quanh.
- Để tránh lây nhiễm chéo, không sử dụng lại đầu bơm
- ViscoStat Clear không chứa epinephrine.
Nguồn: tổng hợp.

Bài viết liên quan
Kỹ thuật tại chỗ và sử dụng các tác nhân dược lý để kiểm soát chảy máu trong nha khoa – P2
Kỹ thuật tại chỗ và sử dụng các tác nhân dược lý để kiểm soát chảy máu trong nha khoa – P1