April 29, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P4

Xem lại các phần trước tại đây.

 

Kĩ thuật chiếu đèn

Yêu cầu cơ bản để thực hiện thành công các phục hồi dán trực tiếp là phải cô lập tốt. Phương tiện kiểm soát độ ẩm tốt nhất là đê cao su. Sự nhiễm bẩn men răng và ngà răng từ nước bọt, độ ẩm trong miệng, máu và dịch nướu có thể làm giảm tuổi thọ của phục hồi do giảm độ bền liên kết và độ bám dính với răng.

Việc đắp lớp tăng dần cũng cải thiện khả năng kiểm soát của bác sĩ khi trám, sự khít sát viền, sự trùng hợp của vật liệu và sự hình thành liên kết. Ngoài ra, việc đắp lớp cũng giúp kiểm soát phần nhô ra ở các mép phía bên trước khi trùng hợp, giảm tác động của sự co ngót trùng hợp, cho phép định hướng chùm ánh sáng theo vị trí của từng lớp composite và cho phép tạo chính xác các đường viền giải phẫu.

 

Tiêu chí để cải thiện độ bám dính tại giao diện

Độ bám dính bề mặt bền giữa răng và vật liệu đòi hỏi bề mặt chất nền sạch, góc tiếp xúc thấp cho phép chất dán trải đều trên toàn bộ bề mặt chất nền và khả năng thẩm thấu tối ưu của các monome dán vào chất nền.

Các kĩ thuật xử lý sau đây là điều kiện tiên quyết để đạt được bề mặt dán bền:

  • Cô lập tốt. Sự nhiễm bẩn men và ngà răng với nước bọt, độ ẩm trong miệng, máu và dịch nướcu có thể làm giảm tuổi thọ của phục hồi do ảnh hưởng đến độ bám dính tại bề mặt tiếp xúc và làm giảm độ bền dán.
  • Hạn chế sử dụng chất làm se hoặc chất cầm máu, chất phát hiện sâu răng, peroxit từ chất tẩy trắng, oxit kẽm và eugenol vì chúng có thể gây nhiễm bẩn và làm giảm độ bền liên kết từ 50% trở lên.
  • Tránh kết hợp các vật liệu tự trùng hợp với keo dán self-etch tất cả trong một. Sự kết hợp này làm xáo trộn phản ứng oxy hóa khử của cơ chế trùng hợp của các vật liệu này và do đó vật liệu sẽ không trùng hợp ở bề mặt tiếp xúc.
  • Quản lý ứng suất co ngót tại bề mặt tiếp xúc bằng cách giảm thể tích xoang, kiểm soát cường độ đèn chiếu, chọn vật liệu composite có độ co thấp và sử dụng các kỹ thuật đặt phục hồi giảm ứng suất.
  • Hiểu và nắm rõ kiến thức về loại dung môi (ví dụ: nước, ethanol, axeton) trong keo dán và ảnh hưởng của nó đến kỹ thuật bôi cũng như độ ẩm cần thiết trong ngà răng.
  • Đánh giá thành phần răng trong quá trình mài răng. Ngà răng đã trải qua những thay đổi về cấu trúc vi mô (tức là ngà răng bị xơ cứng) gây khó khăn trong việc kết dính và khó tiên lượng.
  • Bảo toàn bờ viền phục hồi trong quá trình hoàn thiện. Các quy trình hoàn thiện và đánh bóng có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của phục hồi do ảnh hưởng đến khả năng chống mài mòn. Giảm và/hoặc trì hoãn việc hoàn tất có thể giúp duy trì tính toàn vẹn của viền phục hồi. Tránh cắt mạnh cấu trúc răng và cắt xén mép răng.
  • Bôi sealant vào bề mặt. Việc sử dụng sealant composite sau khi hoàn thiện ban đầu có thể giúp bịt kín các vết nứt nhỏ hoặc các lỗ rỗng cực nhỏ hình thành trong quá trình thực hiện và đã được chứng minh là làm giảm sự mài mòn của phục hồi composite răng sau.
  • Ổn định khớp cắn trước khi điều trị. Cân bằng khớp cắn và điều trị bảo vệ khớp cắn trước khi phục hồi có thể làm giảm tải lực quá mức có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của bề mặt dán.

Trường hợp sau đây minh họa cách thức, bằng cách sử dụng khái niệm thiết kế dán với vật liệu composite lai thông thường và các tiêu chí này để cải thiện độ bám dính tại bề mặt tiếp xúc, chúng ta có thể đạt được tính thẩm mỹ xuất sắc và tuổi thọ của các phục hồi được thực hiện trực tiếp trên ghế (Hình 2-17).

 

Hình 2-17. (a) Hình ảnh trước điều trị, cho thấy mặt ngoài các phục hồi composite bị lỗi và kém thẩm mỹ. (b) Thực hiện sáp chẩn đoán (wax-up) để tạo một mẫu acrylic trong miệng tùy chỉnh, được sử dụng để hướng dẫn tái tạo chính xác hình thái răng. (c) Đắp lớp đầu tiên là composite lai màu ngà A1 (XRV Herculite, Kerr). (d) Chiều dài răng cửa được tạo trên nền acrylic sử dụng vật liệu composite lai màu A1 (XRV Herculite) để tạo thành các thùy răng. (e) Composite màu trắng được bôi theo chiều dọc ở rìa cắn của đầu các thùy để làm nổi bật. (f) Composite màu xanh lam được đặt với một lớp rất mỏng dọc theo giao tuyến gần và xa. Tăng cường nhấn mạnh vào các góc cắn của phục hồi để mô phỏng độ trong mờ.

 

 

Hình 2-17 (tiếp). (g) Sau khi phủ màu, đắp lớp composite lai “màu trong” (Renamel, Cosmident) ở phần cổ răng. (h) Lớp bề mặt của vật liệu composite được điêu khắc mô phỏng lớp men và chiếu đèn trùng hợp trong 40 giây. (i) Tạo đường viền mặt ngoài bằng mũi khoan hoàn tất 8 và 16 rãnh (ET9, Brasseler USA). (j) Tạo đường viền phía nướu và phía bên bằng các mũi khoan hoàn tất 8 và 16 rãnh (ET3). (k) Phần giao diện giữa rìa cắn và mặt trong (mặt lưỡi) được hoàn tất bằng mũi khoan hình trứng (OS1, Brasseler USA). (l) Hoàn thiện các góc bằng đĩa nhôm oxit. Lưu ý rằng kết cấu và giải phẫu bề mặt hiện có được giữ nguyên trong suốt quá trình này.

 

 

 

Hình 2-17 (tiếp). (m) Vùng kẽ được làm mịn bằng kem đánh bóng composite và dải đánh bóng oxit nhôm được sử dụng tuần tự theo độ nhám, từ mịn đến siêu mịn (EnamelizeFlexiStrips, Cosmedent). (n) Việc đánh bóng ban đầu được thực hiện bằng các mũi silicon (FlexiPoints, Cosmident), cho phép loại bỏ hiệu quả mọi khiếm khuyết bề mặt hoặc các vùng gồ ghề. (o) Bề mặt phía nướu được đánh bóng bằng đài silicon (FlexiCups, Cosmedent). (p) Bánh xe vải và kem đánh bóng được sử dụng để tinh chỉnh thêm độ bóng bề mặt. (q) Độ bóng bề mặt được tăng cường bằng cách sử dụng bánh xe nỉ khô với chuyển động ngắt quãng không liên tục ở tốc độ chậm. (r) Mặt ngoài của các phục hồi veneer đã hoàn thành trên nền acrylic.

 

 

Hình 2-17 (tiếp). (s và t) Hình ảnh sau điều trị. Lưu ý các đặc tính quang học đạt được khi phục hồi dán trực tiếp. Màu sắc, đường viền và kết cấu của răng được phục hồi đáp ứng được mong đợi của bệnh nhân về mặt thẩm mỹ. (u) Hình ảnh sau 12 năm. (v và w) Hình ảnh sau 17 năm.

 

Bệnh nhân phải biết vệ sinh răng miệng tốt và hiểu tầm quan trọng của việc tái khám định kỳ để duy trì mức độ khớp cắn chức năng và sức khỏe nha chu tối ưu.

 

Xem tiếp phần 5 tại đây.

Nguồn: Restoring with Flowables – Douglas A. Terry.