June 10, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Sử dụng MTA điều trị cho răng tủy sống

Phương pháp điều trị tủy bảo tồn (vital pulp therapy) được ứng dụng nhằm bảo tồn độ sống cho mô tủy răng, trong đó bao gồm: che tủy trực tiếp, lấy tủy buồng bán phần và lấy tủy buồng toàn bộ.

Răng tủy sống có khả năng đáp ứng tốt với tải lực nhai gấp 2.5 lần so với răng đã lấy tủy (Randow & Glantz 1986; Stanley 1989), làm giảm khả năng nứt gãy thân và chân răng trên lâm sàng (Fuss 2001; Lertchirakarn 2003; Mireku 2010).

Kĩ thuật điều trị tủy sống không quá phức tạp và mất nhiều thời gian như việc lấy tủy. Đồng thời, tuổi thọ răng sống cũng được kéo dài hơn so với răng lấy tủy.

Sự xuất hiện của MTA trong nha khoa hiện đại đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong kết quả điều trị những ca che tủy trực tiếp trước kia, khi đó chúng bị coi là điều trị khó tiên lượng và thường bị tránh chỉ định.

MTA là hỗn hợp bột cement calcium–silicate cứng trong nước, có chứa các hợp chất oxide khác nhau, gồm: oxide natri và kali, oxide canxi, oxide silic, oxide sắt, oxide nhôm và oxide magie. Tricalcium silicate là thành phần chính và được biết đến là một chất có tính tương hợp sinh học và có hoạt tính sinh học cao.

Hoạt tính sinh học thể hiện những phản ứng tích cực của thuốc hoặc vật liệu lên mô sống. Một vật liệu được gọi là có hoạt tính sinh học nếu nó có thể tương tác với tế bào của cơ thể con người hoặc cho thấy phản ứng sinh học tích cực với các tế bào (Hench & West 1996).

Loại MTA xuất hiện đầu tiên trên thị trường (ProRoot MTA) là MTA có màu xám (GMTA), làm đổi màu răng nếu sử dụng lên phần thân răng (Karabucak 2005). Sau đó sản phẩm được chế tạo lại thành dạng màu trắng ngà, được biết đến là MTA trắng (WMTA).

MTA xám có chứa các hợp chất sắt có cấu trúc màu, trong đó có tetracalcium ferrite, chất này không có trong MTA trắng. Ngoài ra, nồng độ của oxide nhôm, oxide magie và oxide sắt trong MTA trắng cũng thấp hơn rất nhiều so với MTA xám.

Mặc dù có sự khác biệt về thành phần nhưng các nghiên cứu mô học đã chứng minh phản ứng mô học của MTA xám và MTA trắng là tương tự nhau (Faraco Júnior & Holland 2001, 2004; Parirokh 2005).

Hình 4.4. (A) Phim X quang R7 hàm dưới ở một bệnh nhân 50 tuổi, sâu lớn sát tủy và không có triệu chứng đau. (B) Sau khi nạo ngà xoang sâu thấy lộ tủy. (C) Hai điểm lộ tủy khá lớn đã được cầm máu để chuẩn bị đặt MTA.

 

(D) 3,5 tháng sau điều trị với MTA, mở chất trám tạm ra và loại bỏ MTA thấy sự hình thành mô cứng tại một điểm lộ tủy đã đặt MTA trước đó (mũi tên). (E) 7 tháng sau, khi loại bỏ miếng trám tạm và MTA thì thấy sự hình thành cầu ngà ở cả 2 điểm lộ tủy (mũi tên). (F) X quang sau khi trám kết thúc. Bệnh nhân không đau.

 

Hình 4.5. (A) X quang trước điều trị của một R6 hàm trên ở một bệnh nhân 15 tuổi, sâu lớn và có triệu chứng đau.

 

(C) Lỗ sâu được làm sạch với thuốc nhuộm phát hiện sâu răng. (D) Vị trí tủy lộ sau khi đã được cầm máu bằng NaOCl 5.25%.

 

(E) X quang sau khi đặt MTA che tủy trực tiếp. (F) Trám kết thúc bằng composite 5 ngày sau khi đặt MTA.

 

(G) Hình ảnh lâm sàng sau khi trám kết thúc. (H) X quang sau điều trị, 14 năm sau miếng trám vẫn nguyên vẹn và răng đáp ứng bình thường với test thử tủy.

 

Lấy tủy buồng ở răng sữa với MTA

Lấy tủy buồng được chỉ định khi lộ tủy lớn mà phần viêm tủy chỉ giới hạn ở phần tủy buồng. Kiểm soát được cầm máu là chìa khóa then chốt để quyết định mức độ viêm tủy có khả năng hồi phục hay không và để quyết định mức độ xâm lấn khi điều trị.

Răng sữa lộ tủy thì phải lấy toàn bộ tủy buồng. Sau khi cắt bỏ tủy buồng thì bơm rửa thật nhiều với NaOCl và dùng gòn tẩm NaOCl (1.25 – 6%) ép chặt để cầm máu. Nếu không cầm máu sau 2 – 3 phút thì chứng tỏ mô tủy viêm lan rộng, thường phải chỉ định lấy tủy chân hoặc nhổ răng sau đó. Nếu đã cầm máu được thì đặt thuốc và trám tạm, sau đó trám kết thúc hoặc chỉ định mão SSC.

Có rất nhiều loại vật liệu được sử dụng để lấy tủy buồng ở răng sữa, bao gồm: Canxi Hydroxit, Formocresol, Glutaraldehyde, Sắt Sulfate, MTA và Collagen.

Đến nay, Formocresol vẫn là vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất cho thủ thuật lấy tủy buồng. Tuy nhiên, những lo ngại về độc tính, khả năng gây dị ứng, khả năng gây ung thư và khả năng gây đột biến của nó khiến cho nhiều người tranh cãi và nó ngày càng ít được khuyên dùng hơn (Duggal 2009; Lewis 2010).

Các nhà lâm sàng nhận thấy MTA cho kết quả điều trị tốt hơn Formocresol khi sử dụng trong lấy tủy buồng răng sữa.

 

Hình 4.7. (A) Đặt MTA ở răng sữa cho thấy sự hình thành cầu ngà sau 5 tháng. D: ngà; P: tủy; DB: cầu ngà). (B) Các tế bào giống như nguyên bào ngà (odontoblast-like cells) (OLC) nằm xung quanh lớp cầu ngà tạo ra nhờ MTA.

 

Formocresol cũng cho thấy tỉ lệ tiêu ngót chân răng cao hơn so với MTA (Aeinehchi 2007; Moretti 2008; Subramaniam 2009; Ansari 2010; Erdem 2011). Các nghiên cứu không nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa MTA xám với MTA trắng, tuy vậy cầu ngà từ MTA xám có phần dày hơn (Cardosa-Silva 2011).

Với kết quả điều trị tốt, tỉ lệ thành công cao, có sự hình thành cầu ngà, khả năng bảo tồn mô tủy sống tốt và không gây tiêu ngót chân răng, MTA dần trở thành loại vật liệu tiêu chuẩn trong lấy tủy buồng.

 

Hình 4.8. (A) X quang R4 sữa hàm dưới, với lỗ sâu lớn chạm tủy, có triệu chứng đau. (B) X quang 6 tuần sau điều trị lấy tủy buồng bằng MTA, trám kết thúc bằng composite. Răng không có triệu chứng.

 

Lấy tủy buồng ở răng vĩnh viễn chưa đóng chóp

Luôn cân nhắc đến chỉ định che tủy và lấy tủy buồng đối với những răng vĩnh viễn lộ tủy mà chưa đóng chóp.

 

Hình 4.9. Lấy tủy buồng bán phần bằng MTA răng cửa sau chấn thương. (A) X quang trước điều trị cho thấy tủy lộ lớn. (B) 2 tháng sau khi điều trị. (C) 2 năm sau điều trị cho thấy sự phát triển chân răng hoàn tất.

 

Các vật liệu dùng để lấy tủy buồng ở răng sữa cũng có thể dùng cho răng vĩnh viễn.

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.