June 10, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Sử dụng thuốc tê bề mặt (bôi, xịt)

Các thuốc tê bề mặt không thấm được qua da lành, nhưng có thể thấm qua lớp da bị trầy hoặc niêm mạc.

Nồng độ thuốc tê bề mặt thường cao hơn rất nhiều so với thuốc tê chích, làm tăng nguy cơ ngộ độc, ngộ độc tại chỗ do thấm qua mô và ngộ độc toàn thân nếu được cơ thể hấp thu tốt.

Về nguyên tắc, bôi tê bề mặt chỉ giới hạn 2 – 3mm trên bề mặt mô và chỉ có tác dụng tê nông. Bề mặt niêm mạc bôi tê dễ bị chấn thương khi đâm kim.

Các thuốc tê bôi gốc benzocaine và lidocaine không tan trong nước nhưng tan được trong cồn. Hai loại này hấp thu chậm vào hệ tuần hoàn nên có vẻ ít góp phần gây quá liều.

Một vài loại thuốc tê bề mặt được sản xuất dưới dạng xịt, nhưng không được chứng minh hiệu quả hơn dạng bôi, hơn nữa còn khó kiểm soát lượng thuốc khi xịt ra, khó giới hạn thuốc xịt vào một vùng mô nhỏ như tê bôi.

 

Benzocaine

– Khó tan trong nước.

Khó hấp thu vào hệ tuần hoàn.

Phản ứng độc (quá liều) ít được ghi nhận.

Lưu lại tại vị trí bôi khá lâu, cho thời gian tê lâu.

Phản ứng dị ứng tại chỗ có thể xảy ra khi sử dụng kéo dài và lặp đi lặp lại.

Ức chế hoạt động kháng khuẩn của sulfonamide.

Sản xuất dưới nhiều hình thức: chai xịt, gel, thuốc mỡ và dung dịch (H4.8).

 

Hình 4.8. Benzocaine 20% dạng gel với nhiều mùi khác nhau.

 

EMLA (hỗn hợp tê tại chỗ Eutectic)

Kem bôi EMLA có chứa 2.5% lidocaine và 2.5% prilocaine. Loại thuốc tê này có khả năng thấm qua da (các thuốc tê tại chỗ khác không thể thấm qua da lành, chỉ thấm qua niêm mạc hoặc da bị trầy xước), thường được sử dụng trước các thủ thuật tiêm như tiêm tĩnh mạch.

EMLA được sản xuất dưới dạng tuýp 5 – 30g (H4.10A).

 

Hình 4.10. (A) Tuýp bôi EMLA.

 

EMLA bị chống chỉ định sử dụng cho bệnh nhân methemoglobine bẩm sinh hay mắc phải, trẻ em dưới 12 tháng đang điều trị methemoglobin, bệnh nhân dị ứng với thuốc tê amide hay bất cứ thành phần nào của thuốc.

 

Oraqix

Một dạng khác của EMLA, tên là Oraqix cũng gồm 2.5% lidocaine và 2.5% prilocain. Bôi Oraqix vào vị trí túi nha chu có thể cho hiệu quả tê sau khoảng 30 giây. Thời gian tê có thể kéo dài đến 20 phút (từ 14 – 27 phút). Có thể bôi lặp lại để duy trì tác dụng tê trong quá trình thực hiện thủ thuật (H4.10 B và C).

 

Hình 4.10. (B) Thuốc tê Oraqix và (C) cách sử dụng.

 

Chỉ định của Oraqix chủ yếu là bôi tê túi nha chu khi nạo túi hoặc xử lí mặt gốc răng. Oraqix còn được sử dụng trong phục hình để giảm đau khi đặt chỉ co nướu, bôi tê bề mặt khẩu cái trước khi đâm kim.

Sử dụng Oraqix bằng cách bôi quanh viền nướu răng thông qua đầu bơm. Đợi ít nhất 30 giây trước khi bắt đầu thủ thuật. Hiệu quả tê đạt được trong khoảng 20 phút, sau đó bôi lặp lại nếu cần. Liều tối đa của Oraqix trong một lần điều trị là 5 ống.

 

Lidocaine

Lidocaine bề mặt có 2 dạng: (1) lidocaine base, khó tan trong nước, nồng độ 5%, thường chỉ định cho bôi tê niêm mạc, mô loét, trầy hoặc rách; (2) lidocaine hydrochloride, dễ tan trong nước, nồng độ 2%.

Lidocaine là thuốc tê bề mặt loại amide và rất ít gây dị ứng.

Liều tối đa của lidocaine base 5% là 5g. Lidocaine được sản xuất dưới dạng mỡ, miếng dán và dung dịch với nhiều hàm lượng khác nhau (H4.11).

 

Hình 4.11. (A) Lidocaine dạng mỡ. (B) Lidocaine dạng miếng dán.
 

Tetracaine hydrochloride

– Là thuốc tê loại ester với thời gian tác dụng kéo dài.

– Rất dễ tan trong nước.

– Khi bôi bề mặt thì đạt hiệu lực gấp 5 – 8 lần cocaine.

– Thời gian bắt đầu có tác dụng sau khi bôi khá chậm.

– Bôi tê bề mặt thường được sử dụng nồng độ > 4%.

– Hấp thu nhanh chóng qua niêm mạc, chỉ nên bôi giới hạn để tránh quá liều.

– Liều tối đa khi bôi là 20mg.

 

Xem đầy đủ tại sách “Cẩm nang gây tê trong nha khoa” tại đây.

 

Nguồn: Handbook of local anesthesia – Stanley F. Malamed.