LÀM NỀN TẠM GỐI SÁP
Cách làm nền tạm gối sáp
1) Đắp những vùng lẹm trên mẫu hàm bằng sáp (Hình 7.1).

Mẫu hàm được quét chất cách ly, dầu bôi trơn (Vaseline) hoặc chất chống dính Triad (Hình 7.2).

2) Sử dụng vật liệu làm nền tạm là nhựa Triad có dạng tấm mềm, dẻo đựng trong túi kín (Hình 7.3).

Đặt tấm nhựa lên bề mặt mẫu hàm. Đối với hàm trên, ấn xuống vòm miệng trước, sau đó, trong khi giữ ngón tay cái ở vòm miệng, tiếp tục ấn tấm nhựa xuống ở vùng ngách hành lang (Hình 7.4).

Phần thừa sẽ được cắt bỏ bằng cách dùng đầu móng tay cái ấn vào viền ngoài cùng của mẫu hàm (Hình 7.5).

3) Khi cắt bỏ viền nhựa dư, cẩn thận không đè mỏng phần nhựa ở vòm miệng đang được giữ bằng ngón tay cái (Hình 7.6).

Tấm nhựa phải lấp đầy ngách hành lang chứ không bị cắt bớt như với khay cá nhân. Khi đã có hình dạng phù hợp, bôi phủ một lớp sơn chắn (hình 7.7) để tránh tạo bọt khí.

4) Nền tạm được lấy ra khỏi mẫu hàm, đặt vào thiết bị trùng hợp và trùng hợp trong vòng ba phút (hình 7.8), lật ngược mặt trong lên trên và tiếp tục trùng hợp trong hai phút nữa.

Nhìn qua sẽ thấy nơi vật liệu Triad mở rộng trên mẫu hàm (Hình 7.9).

5) Đối với hàm dưới, cắt tấm nhựa tạo một đường chính giữa ở vùng lưỡi (Hình 7.10).

Nền tạm được điều chỉnh phù hợp với mẫu hàm tương tự như với hàm trên nhưng có cắt bỏ phần lưỡi (hình 7.11).

6) Loại bỏ phần sáp đắp lẹm và kiểm tra.
7) Khi đặt nền tạm vào lại mẫu hàm, luôn có một chút biến dạng, dễ nhận thấy nhất là ở vòm miệng, có thể thấy một khe hở nhỏ giữa mẫu hàm và nền tạm ở giữa vòm miệng (Hình 7.12). Đây được gọi là “sai số trùng hợp” và phải được dự đoán trước.

8) Triad được rửa sạch để loại bỏ lớp sơn lót phủ. Những phần nhựa dư thừa sẽ bị mài bỏ và tất cả các đường viền đều được làm mịn.
9) Để tạo gối sáp, sử dụng một miếng sáp, đun nóng trong nồi cách thủy hoặc hơ nóng trên đèn cồn và gấp lại nhiều lần đồng thời ép lại với nhau.

10) Gối sáp được tạo bằng cách uốn dải sáp để vừa với nền tạm (Hình 7.14-7.15).

11) Làm nóng chảy một lớp sáp mỏng trên bề mặt sống hàm của nền tạm. Gắn gối sáp lên nền tạm bằng một dụng cụ hơ nóng, thêm sáp nóng chảy vào xung quanh viền gối sáp để cố định. Có thể sử dụng ống nhỏ giọt bằng thủy tinh để làm sáp nóng chảy nhằm bịt kín viền gối sáp vào nền tạm (Hình 7.16).

Sử dụng bay sáp to, hơ nóng trên đèn cồn để tạo hình đường viền cho mặt ngoài và mặt bên của gối sáp (Hình 7.17).

Làm tương tự với mặt phẳng nhai của gối sáp (Hình 7.18).

12) Tại labo, chiều rộng của gối sáp hàm trên và hàm dưới được điều chỉnh bằng 10 mm ở phía sau và 8 mm ở phía trước, để đảm bảo đủ lượng sáp cho mục đích điều chỉnh trên lâm sàng đểphù hợp với các đường nét trên khuôn mặt tùy theo tương quan của mặt ngoài gối sáp với môi và má của bệnh nhân.
Đầu tận cùng phía xa của gối sáp hàm trên được cắt ngắn khoảng 6 mm so với mép xa của nền tạm và tạo góc khoảng 45° (Hình 7.19).

Gối sáp hàm dưới sẽ kết thúc ở điểm 2/3 gối hậu hàm. Dùng bút vẽ một đường trên mặt nhai của sáp để biểu thị đỉnh sống hàm từ răng nanh đến gối hậu hàm (Hình 7.20).

13) Chiều cao của gối sáp hàm trên là 22 mm ở phía trước (A) và 18 mm ở phía sau (B) (Hình 7.21).

Chiều cao của gối sáp hàm dưới là điểm bằng 2/3 gối hậu hàm ở phía sau (C) và 18 mm ở phía trước (tính từ đáy hành lang phía trước) (D) (Hình 7.22).

Lưu ý rằng các kích thước này hoàn toàn tùy chỉnh và phải được điều chỉnh trong miệng bệnh nhân để vừa với cung răng.
Về mặt lâm sàng, mặt ngoài của gối sáp cả hàm trên và hàm dưới đều được điều chỉnh để vừa với miệng bệnh nhân và có sự nâng đỡ thích hợp cho môi và má, đồng thời chiều cao phía trước được xác định bằng cách yêu cầu bệnh nhân tạo ra âm thanh ma sát.
Sau khi đã thiết lập được đường viền má và môi trong miệng bệnh nhân, đường giữa, đường răng nanh và đường viền môi sẽ được vẽ lại trên gối sáp hàm trên để tạo điều kiện định hướng răng khi sắp răng.
Xem tiếp phần 4 tại đây.
Nguồn: Treating the complete denture patient – Carl F.Driscoll, William Glen Golden.


Bài viết liên quan
Thực hiện hàm giả hàm dưới toàn hàm hít dính hiệu quả dựa trên khái niệm BPS® – P2
Thực hiện hàm giả hàm dưới toàn hàm hít dính hiệu quả dựa trên khái niệm BPS® – P1
Nguyên tắc thiết kế hàm khung – P2