Băng nha chu là rào cản vật lý được đặt trên vị trí phẫu thuật để bảo vệ các mô đang lành khỏi các lực tạo ra trong quá trình nhai, do đó mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân. Những miếng băng này cũng có tác dụng như thanh nẹp cho răng di động trong quá trình lành thương.
Sau phẫu thuật nha chu, chúng giúp định hình các mô mới hình thành bằng cách duy trì sự khít sát chặt chẽ của các vạt niêm mạc và mảnh ghép nướu với các mô bên dưới. Băng nha chu giúp ngăn ngừa chảy máu sau phẫu thuật bằng cách giữ cục máu đông tại chỗ. Hiện tại, không có loại băng nha chu nào được sản xuất có chứa các tác nhân trị liệu để hỗ trợ quá trình lành vết thương.
Băng nha chu không eugenol – Coe-Pak (G.C. America, Inc.) là một trong những loại băng nha chu được sử dụng phổ biến nhất. So với băng ZOE, loại băng này mềm hơn và mịn hơn.
CÁCH ĐẶT BĂNG COE-PAK
A. Chuẩn bị
- Coe-Pak được cung cấp dưới dạng hai tuýp kem, được trộn ngay trước khi đặt.
- Tuýp lớn hơn, chứa chất nền, có thành phần chủ yếu là mỡ khoáng, nhựa thông và axit béo.
- Tuýp nhỏ hơn chứa chất xúc tác, là hỗn hợp của oxit kẽm, magie và dầu thực vật.
- Chiều dài bằng nhau của chất nền và chất xúc tác được thể hiện trên miếng trộn, như trong hình 33.2A.

Đường kính của 2 loại kem (không phải chiều dài) sẽ khác nhau, tương ứng với kích thước của mỗi tuýp.
Thông thường sẽ lấy một lượng có chiều dài bằng chiều dài của vị trí phẫu thuật là đủ để che phủ.
- Coe-Pak cũng được đóng gói dưới dạng vật liệu trộn tự động tương tự như vật liệu lấy dấu. Đơn giản chỉ cần đổ vật liệu trộn sẵn lên một tấm trộn và để vật liệu đạt được độ đặc phù hợp để sử dụng
B. Trộn
- Sử dụng cây đè lưỡi hoặc bay trộn để trộn đều 2 phần cho đến khi hỗn hợp có màu đồng nhất.

Trộn trong thời gian khoảng từ 30 đến 45 giây. Có thể thêm một viên nang tetracycline vào trong hỗn hợp đang trộn để tạo đặc tính kháng khuẩn cho băng.
- Gom hỗn hợp thành một khối nhỏ gọn (hình 33.2E) và để yên trong 2 đến 3 phút.

- Bôi trơn nhẹ ngón tay bằng vaseline hoặc nước muối vô trùng và thử băng. Khi băng không còn dính nhưng vẫn mềm và dẻo thì có thể đặt được
C. Đặt băng
- Cần phải cầm máu, kiểm soát tình trạng chảy máu trước khi đặt băng. Lau khô vùng phẫu thuật và răng ở khu vực đó bằng gạc vô trùng. Không nên băng khi còn chảy máu quá nhiều. Phẫu trường khô sẽ giúp giữ lại lớp băng.
- Nếu vị trí phẫu thuật nằm ở vùng răng sau thì cuộn miếng băng bằng ngón tay được bôi trơn nhẹ thành một sợi dây có đường kính khoảng bằng cây bút chì.

- Bắt đầu đặt từ mặt ngoài các răng trước và cuộn lên vùng cổ răng. Ấn phẳng khối băng vào các mô mềm liên quan và phần cổ răng. Vòng ra đến nhóm răng sau và tiếp tục bao phủ mặt trong (mặt lưỡi) tương ứng, ấn chặt các phần liên quan mặt ngoài và mặt trong lại với nhau.
- Nếu vị trí phẫu thuật nằm ở vùng răng trước thì nên chia vật liệu thành hai phần bằng nhau và đặt lên vùng mặt ngoài, tiếp đến là mặt trong.
- Điều chỉnh các vùng tiếp xúc bằng dụng cụ nhựa hoặc mặt sau của dụng cụ nạo, như trong hình 33.3A.

Nén ép băng vào vùng kẽ giúp tăng độ lực giữ cơ học cho lớp băng. Băng chỉ nên đủ dày để tạo độ bền cho vật liệu và chỉ che phủ vết thương phẫu thuật.
6. Để tăng độ lưu, nên đắp băng trên ít nhất 4 – 5 răng ở vùng điều trị.
7. Thời gian làm việc để trộn Coe-Pak là 10 đến 15 phút đối với loại thông thường và 5 đến 8 phút đối với loại nhanh đông.

Lớp băng chỉ nên có độ dày mỏng nhất từ 2 đến 3 mm và dày nhất là từ 8 đến 10 mm.
Băng không được kéo dài quá 2mm về phía chóp so với vị trí phẫu thuật.
Băng không được kéo dài vào ngách hành lang hoặc chạm vào các thắng. Cần cắt bỏ phần vật liệu dư làm cản trở chuyển động cơ và thắng.
Bề mặt bên ngoài lớp băng phải trơn nhẵn để đảm bảo sự thoải mái cho bệnh nhân và ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám.
Tránh đặt Coe-Pak ở những bệnh nhân có dị ứng với các sản phẩm nhựa thông và đậu phộng.
Bệnh nhân sẽ quay lại tái khám sau 7 đến 10 ngày kể từ ngày phẫu thuật. Nếu băng chưa bị rớt thì bác sĩ sẽ tháo băng và cắt chỉ, chờ lành thương.
THÁO BĂNG NHA CHU
Sử dụng một dụng cụ cùn, chắc chắn, chẳng hạn như cây nạo, đưa vào dưới mép băng với bề mặt nhẵn tiếp xúc với mô. Tác động lực ép nhẹ từ phía bên và nhẹ nhàng nới lỏng miếng băng. Các mũi khâu có thể dính vào khối băng phải được phát hiện và cắt rời trước khi tháo băng. Dùng kẹp tháo miếng băng ra, cẩn thận không làm xước các mô nhạy cảm.
Sau khi tháo băng, sử dụng một đầu tăm bông, nhúng vào dung dịch súc miệng khử trùng pha loãng hoặc hydro peroxide để lau sạch thức ăn và mảnh vụn vi khuẩn, như trong hình 34.1

Rửa sạch mô bằng nước ấm và cắt chỉ.
Các mô đã phẫu thuật phải được biểu mô hóa (được bao phủ bởi biểu mô); tuy nhiên, biểu mô sẽ dễ vỡ ở giai đoạn đầu của quá trình lành thương. Các mô này có thể đỏ hơn mô xung quanh do có nhiều mạch máu hơn và mức độ sừng hóa thấp hơn. Nếu vết thương chậm lành và mô nhạy cảm, có thể thay băng nha chu khác trong tuần thứ 2.
Nguồn: Clinical Aspect of Dental Material Theory, Practice and Cases – Marcia Gladwin, Michael Bagby.

Bài viết liên quan
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P6
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P5 – Phục hồi răng trực tiếp bằng composite lỏng
Sử dụng composite lỏng trong nha khoa – P7