April 17, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Các loại chấn thương răng và cách xử trí – P2

Xem lại phần 1 tại đây.

 

GÃY THÂN RĂNG

Điều trị

Gãy men và gãy men-ngà (không lộ tủy)

 

Sử dụng keo dán ngà (DBA): có nên lót ngà răng lộ ra không?

Cho đến gần đây, kế hoạch điều trị gãy men-ngà không lộ tủy là che phủ ngà răng bằng lớp lót cứng có chứa canxi hydroxit. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận rằng canxi hydroxit sẽ phân hủy bên dưới phục hồi theo thời gian.

Hơn nữa, người ta cũng tìm thấy vi khuẩn trong lớp lót canxi hydroxit và khẳng định chúng không thể cung cấp một rào cản vĩnh viễn chống lại vi rò rỉ. Và ngoài ra, lớp lót canxi hydroxit cũng ức chế composite trùng hợp tương tự như oxit-eugenol kẽm. Do đó, lợi ích lâu dài của việc sử dụng chúng vẫn còn tranh cãi.

Mặc dù lớp lót canxi hydroxit quang trùng hợp có thể ổn định hơn về mặt lâm sàng nhưng hiện tại không có dữ liệu dài hạn nào chứng minh.

Điều quan trọng đối với quá trình lành thương của tủy là mức độ hiệu quả của ngà răng được bịt kín khỏi kích thích của vi khuẩn. Nếu ngà răng lộ sâu được bịt kín đầy đủ, tủy sẽ hình thành ngà sửa chữa ngay cả khi không có canxi hydroxit.

 

Rò rỉ vi mô xung quanh phục hồi composite là một trong những nguyên nhân chính gây thất bại. Rò rỉ vi mô có thể được khắc phục nhờ liên kết vi cơ mạnh mẽ giữa composite và men đã etching. Độ bền dán trên men răng mạnh hơn gấp 3 lần so với ngà răng.

Những nghiên cứu cho thấy lớp lót canxi hydroxit có thể được loại bỏ và chất dán ngà được sử dụng để tối đa hóa diện tích dán và giảm thiểu sự hình thành khe hở giữa bề mặt răng với phục hồi composite để đảm bảo quá trình lành thương tủy.

Tuy nhiên, hiện tại, độ bền dán lâm sàng này vẫn chưa được biết rõ. Thất bại lâm sàng có thể xảy ra do sự co ngót từ quá trình trùng hợp, sự thay đổi kích thước do nhiệt gây ra hoặc ứng suất cơ học hay độ mỏi của vật liệu được sử dụng.

Do đó, cho đến khi có thêm dữ liệu, chiến lược điều trị gãy ngà sâu sẽ là sử dụng xi măng glass ionomer vào mặt sâu nhất của đường gãy và sau đó sử dụng chất dán ngà để hoàn thiện việc bịt kín đối với môi trường miệng.

Lớp lót glass ionomer có rất nhiều ưu điểm như không yêu cầu etching, giúp đơn giản hóa thao tác. Nó có tính ưa nước, nghĩa là nó có thể bám vào ngà răng mới lộ ra, với dòng dịch ngà răng chảy ra ngoài.

Hơn nữa, glass ionomer có rất ít vi rò rỉ so với các lớp lót khác, ngoài ra còn có tính tương thích sinh học tốt, điều này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu

Tóm lại, những phát hiện này chỉ ra rằng xi măng glass ionomer vẫn là vật liệu lý tưởng để che phủ tạm thời, làm lớp lót cho các vết nứt sâu trước khi phục hồi bằng composite hoặc phục hồi vĩnh viễn khác.

 

Gãy men-ngà có lộ tủy

Các nguyên tắc phục hồi gãy thân răng có liên quan đến tủy khác với nguyên tắc của gãy thân răng không lộ tủy chỉ ở việc điều trị phần tủy răng lộ ra, bao gồm che tủy, lấy tủy bán phần hoặc điều trị tủy, được mô tả trong bài sau.

 

Điều trị tạm thời gãy thân răng

Gãy không biến chứng

Có một vài phương pháp xử trí tùy thuộc vào hoàn cảnh chấn thương (tức là phòng khám tư nhân hay phòng cấp cứu bệnh viện) và nhu cầu về giải pháp thẩm mỹ tức thời. Tất cả các phương pháp xử trí đều dựa trên tiền đề là tạo ra một lớp bịt kín chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn vào ống ngà.

‘Băng’ xi măng glass ionomer

Đây là một quy trình đơn giản, sử dụng xi măng glass ionomer quang trùng hợp hoặc hóa trùng hợp để che phủ phần ngà răng lộ ra và men răng lân cận (Hình 13.12).

 

Hình 13.12. Che phủ tạm thời (băng) đường gãy men- ngà bằng xi măng glass ionomer.

 

Ưu điểm của việc sử dụng glass ionomer thay vì composite trong trường hợp này là không cần etching, độ bền liên kết tương đối thấp của glass ionomer với men răng và ngà răng tạo điều kiện thuận lợi cho việc loại bỏ nó sau đó.

Trước khi thực hiện, bề mặt răng phải được rửa sạch bằng tay xịt nước hoặc nước muối.

Quy trình băng glass ionomer đặc biệt hữu ích trong trường hợp gãy nhiều răng và nguồn lực hạn chế cho các quy trình phục hồi sau cùng (ví dụ tại phòng cấp cứu). Glass ionomer có thể là vật liệu lý tưởng để che phủ tạm thời (băng) hoặc làm lớp lót cho các đường gãy sâu trước khi phục hồi bằng composite.

 

Mão bằng nhựa hoặc celluloid

Khi nhu cầu thẩm mỹ được đặt lên hàng đầu thì nên xem xét việc làm mão tạm bằng acrylic hoặc celluloid.

 

Nẹp làm lớp che phủ

Trong trường hợp có tổn thương đồng thời ở mô nha chu, phải kết hợp bảo vệ ngà và tủy với thanh nẹp. Để dễ dàng tháo nẹp và phục hồi sau này, nên che phủ men răng và ngà răng bị lộ bằng lớp lót canxi hydroxit hoặc glass ionomer trước khi sử dụng nẹp axit-etch/nhựa.

Việc che phủ men răng bằng lớp lót đặc biệt quan trọng trong trường hợp sau này phải gắn lại mảnh thân răng bị gãy để đảm bảo viền men còn nguyên vẹn và mảnh mão có thể được gắn vào (xem phần sau). Trong trường hợp gãy thân răng sâu và cần nẹp đồng thời, nẹp gia cố bằng sợi có thể là giải pháp duy trì thỏa đáng cho đến khi tháo nẹp và phục hồi sau cùng.

 

Điều trị sau cùng gãy thân răng

Do những cải tiến gần đây về vật liệu nha khoa hiện có, ranh giới giữa điều trị tạm thời và điều trị sau cùng ngày càng trở nên ít khác biệt hơn.

Trước đây, nhiều loại phục hình đúc bán vĩnh viễn khác nhau (ví dụ như mão basket – mão hở mặt ngoài bằng vàng-acrylic và inlay chốt) trước đây đã được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của bộ răng vĩnh viễn trẻ bị chấn thương cho đến thời điểm điều trị sau cùng. Tuy nhiên, với sự ra đời của vật liệu composite và kỹ thuật etching axit, các loại phục hình này đã bị loại bỏ.

 

Phục hồi sau cùng cho gãy thân răng hiện nay bao gồm phục hồi composite, gắn lại mảnh gãy ban đầu, mão toàn phần, mão bán phần hoặc mặt dán sứ (xem phần sau).

 

Gắn lại mảnh gãy thân răng ban đầu

Việc gắn lại mảnh gãy có một số lợi thế so với các hình thức phục hồi khác sau gãy thân răng, đó là đảm bảo sự phục hồi chính xác về hình thái bề mặt thân răng và tốn ít thời gian hơn cho việc khôi phục (Hình 13.13).

 

Hình 13.13. Gắn lại mảnh thân răng gãy bằng keo dán ngà và gia cố vị trí gắn bằng composite. A, Bệnh nhân nam 10 tuổi bị gãy răng cửa giữa sau khi ngã từ ván trượt. Đường gãy rất gần với sừng tủy phía gần. B, Kiểm tra độ nhạy của tủy. Tủy đáp ứng bình thường với thử nghiệm độ nhạy. Xquang cho thấy không có sự dịch chuyển hoặc gãy chân răng. C, Kiểm tra sự khít sát của mảnh gãy. Mảnh gãy khớp chính xác với thân răng. Bề mặt men còn nguyên vẹn, không có khiếm khuyết rõ ràng ở rìa men. D, Che phủ ngà răng tạm thời bằng canxi hydroxit. Do đường gãy gần sát tủy, lớp băng glass ionomer được đặt trên ngà lộ và men răng trước khi phục hồi tạm.

 

Hình 13.13. E, Etching vùng men rộng 2 mm xung quanh bề mặt gãy. F, Che phủ bề mặt gãy bằng vật liệu làm mão tạm. Để mang lại sự ổn định cao hơn, phục hồi có thể được mở rộng sang các răng liền kề.
G, Lưu trữ mảnh gãy thân răng bằng cách bảo quản trong nước muối sinh lý trong 1 tháng. Bệnh nhân giữ mảnh gãy này và được hướng dẫn thay dung dịch mỗi tuần một lần để giảm ô nhiễm. H, Dán lại mảnh gãy sau 1 tháng. Lớp vỏ tạm được tháo ra và mảnh gãy được gắn chặt vào một miếng sáp dính để dễ thao tác.

 

 

Hình 13.13. I, Chuẩn bị dán. Độ nhạy của tủy được theo dõi và các bề mặt gãy (của mảnh gãy và thân răng) được làm sạch bằng bột pumice và đài cao su. J, Etching men trên cả 2 bề mặt mảnh gãy và viền men cách 2 mm từ đường gãy trong 30 giây với axit photphoric 35%, đảm bảo axit không tiếp xúc với ngà răng. K, Rửa sạch axit bằng nước trong 20 giây. L, Làm khô bề mặt gãy nhẹ trong 10 giây. LƯU Ý: Để tránh không khí lọt vào ống ngà và sau đó làm mảnh gãy bị đổi màu như phấn, khi thổi hơi, phải hướng song song với bề mặt gãy chứ không vuông góc.

 

 

Hình 13.13. M, Xử lý ngà răng bằng EDTA và GLUMA®. Các bề mặt gãy được xử lý bằng EDTA trong 20 giây, sau đó rửa sạch bằng nước trong 10 giây và thổi hơi nhẹ trong 10 giây. Sau đó bôi GLUMA® trong 20 giây và thổi hơi nhẹ trong 10 giây. N, Dán mảnh gãy. Các bề mặt gãy được phủ một hỗn hợp gồm composite có hạt độn và không có hạt độn. Sau khi định vị lại mảnh gãy, composite được trùng hợp sơ. O, Composite được chiếu đèn trong 60 giây ở mặt ngoài và 60 giây từ mặt trong. P, Sử dụng lưỡi dao mổ thẳng để loại bỏ composite dư khỏi vị trí gãy. Các điểm tiếp xúc bên được hoàn thiện bằng các dải đánh bóng.

 

Hình 13.13. Q, Củng cố mặt ngoài của vị trí gãy. Sử dụng mũi khoan kim cương tròn để tạo ra mép ‘vát kép’ 1 mm về phía rìa cắn và phía nướu của đường gãy. Để đạt được tính thẩm mỹ tối ưu, đường vát đi theo một đường nhấp nhô dọc theo đường gãy. R, Phục hồi mặt ngoài bằng composite, hoàn thiện và đánh bóng. T, Củng cố mặt trong của đường gãy. Mặt trong cũng được gia cố bằng quy trình tương tự. U, Phục hồi sau cùng. Hình ảnh 1 tháng sau khi gắn lại mảnh gãy.

 

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message