August 8, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Các yếu tố ảnh hưởng đến so màu răng – P1

Trong bài này sẽ bàn luận các yếu tố ảnh hưởng đến so màu răng sau đây:

– Ánh sáng.

– Sự xung đột ánh sáng trên lâm sàng.

– Hiệu ứng tương phản và các ảo ảnh quang học.

– Hiệu ứng liên quan đến góc độ.

– Khả năng cảm nhận màu và 1 số yếu tố khác.

 

Có những sự thay đổi làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức màu của chúng ta – chẳng hạn như, đại dương không hẳn là luôn có màu xanh, mà nó sẽ có màu sắc khác nhau vào ban đêm và ban ngày. Khung cảnh xung quanh như bầu trời, bờ cát, cây cối có thể góp phần tạo ra những hiệu ứng khác nhau, làm thay đổi màu nước. Ngoài ra, góc độ quan sát khác nhau cũng sẽ đánh giá đại dương dưới những màu sắc khác nhau, ngay cả khi điều kiện quan sát là y hệt nhau chăng nữa.

Trong nha khoa, nguyên tắc tương tự cũng được áp dụng khi so màu răng. Điều kiện ánh sáng, môi trường xung quanh và góc độ quan sát, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và nhận thức màu.

ÁNH SÁNG

Không thể đánh giá màu chính xác nếu thiếu ánh sáng. Điều đáng nói ở đây là không phải chỉ cần mỗi ánh sáng là đủ (H3.1 và 3.2) mà còn cần phải có chất lượng ánh sáng tốt nữa.

Hình 3.1. Quá nhiều ánh sáng làm mờ đi những chi tiết cần thiết để so màu răng.

 

 

Hình 3.2. Ánh sáng không đủ làm khó xác định màu răng.

 

Việc này đòi hỏi chúng ta phải sử dụng đúng đèn và có cường độ ánh sáng phù hợp.

Cường độ sáng

Cường độ ánh sán (hay độ sáng) là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến đường kính đồng tử ở mắt. Sự xác định màu sắc chính xác chỉ đúng khi vật thể nằm dọc trục thị giác (nghĩa là hình ảnh của chúng rơi vào hố thị giác (fovea)). Hố thị giác (fovea) nằm ở trung tâm võng mạc, chứa lượng tế bào nón cao nhất, nhờ đó giúp khả năng nhận thức màu tốt nhất. Mắt người đọc màu chính xác nhất khi đồng tử giãn ra vừa để lộ các tế bào nón trong hố thị giác. Sự thích ứng này tạo điều kiện cho phân tích màu và so màu tốt hơn, đạt được khi cường độ ánh sáng từ 1000 đến 2000 lux, được xác định bằng máy đo (ánh sáng kế) (H3.3).

Hình 3.3. Máy đo dùng để xác định cường độ ánh sáng. Cường độ ánh sáng được khuyến cáo là từ 1000 đến 2000 lux.

 

Nguồn sáng chuẩn

Năm 1931, CIE (Commission Internationale de I’Éclairage – hội đồng ánh sáng quốc tế) phân loại nguồn sáng thành 3 loại chuẩn là A, B và C, về sau có thêm phân loại D, E và phân loại không chính thức F.

– A: đèn Vonfram với nhiệt độ màu 2856 K, tạo ra ánh sáng màu vàng đỏ (H3.4).

Hình 3.4. Nguồn sáng A cho ánh sáng có nhiệt độ màu khoảng 2.856 K.

 

Nhiệt độ màu được đo bằng Kelvin (K). Nhiệt độ Kelvin cao dẫn đến màu lạnh hơn, ngược lại thấp hơn cho thấy màu ấm hơn. Kelvin dao động từ 1.000K đến 10.000K.

 

– B: đèn Vonfram cùng với bộ lọc lỏng để mô phỏng ánh sáng mặt trời trực tiếp, nhiệt độ màu khoảng 4847 K. Ngày nay ít sử dụng.

– C: đèn Vonfram cùng với bộ lọc lỏng để mô phỏng ánh sáng mặt trời gián tiếp, nhiệt độ màu khoảng 6774 K (H3.5).

Hình 3.5. Nguồn sáng C mô phỏng ánh mặt trời gián tiếp, nhiệt độ màu khoảng 6774 K.

 

Tuy vậy, nguồn sáng C không mô phỏng ánh sáng mặt trời hoàn hảo vì trong đó có rất ít tia cực tím (cần thiết để đánh giá huỳnh quang).

NHỮNG XUNG ĐỘT ÁNH SÁNG TRÊN LÂM SÀNG

Các chuyên gia so màu răng trong nha khoa thường tin tưởng vào 1 loại ánh sáng, gọi là ánh sáng hiệu chỉnh màu (color-corrected light) khi so màu răng. Tuy vậy, loại ánh sáng được thiết kế đặc biệt này cũng chưa chắc đảm bảo được so màu chính xác hoàn toàn, vì 2 lí do sau đây:

1. Sự xung đột ánh sáng

Ánh sáng trong phòng nha không thể tránh khỏi sự xung đột. Ánh sáng từ ngoài trời chiếu qua cửa kính sẽ trộn lẫn với ánh sáng từ đèn huỳnh quang trong hành lang hay ánh sáng hiệu chỉnh màu (color-corrected light). Giữa nhiều loại xung đột ánh sáng như thế này, các bác sĩ lâm sàng phải phân tích màu sắc của cả răng đối để quyết định màu sắc chính xác.

– Nếu bác sĩ hoặc kĩ thuật viên so màu dưới ánh sáng tự nhiên thì tốt nhất là nên thực hiện lúc 10 giờ sáng hoặc 2 giờ chiều, vào ngày trời sáng sủa, khi đó nhiệt độ màu sẽ là lí tưởng, từ 5500 đến 6500 K.

– Nên lắp thêm ống phát ánh sáng hiệu chỉnh màu (color-corrected light) khi so màu dưới ánh sáng nhân tạo (không có ánh sáng tự nhiên).

– Nên sử dụng máy đo nhiệt độ màu thường xuyên để đảm bảo nhiệt độ màu tối ưu khi so màu (trong phòng điều trị hoặc phòng phẫu thuật) (H3.12).

Hình 3.12. Máy đo nhiệt độ màu. Nhiệt độ màu tốt cho phòng nha là từ 5.500 đến 6.500 K.

 

– Phải lau chùi bụi và chất bẩn thường xuyên khỏi ống chiếu đèn vì bụi có thể làm thay đổi chất lượng ánh sáng phát ra.

2. Hiện tượng metame

Ánh sáng hiệu chỉnh màu được thiết kế để phù hợp với bước sóng và chất lượng tương đối của ánh sáng mặt trời, tuy vậy nụ cười tự nhiên được nhìn dưới nhiều điều kiện ánh sáng khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về hue, value và chroma (H3.13 và 3.14).

Hình 3.13. Hình minh họa sự nhận thức màu khác nhau dưới chất lượng ánh sáng kém. (a) Ánh sáng nóng (2856 K). (b) Ánh sáng huỳnh quang (4000 K). (c) Ánh sáng hiệu chỉnh màu (5500 K).

 

Hình 3.14. (a) Răng sứ nhìn dưới điều kiện ánh nắng ban ngày (5200 đến 5500 K). (b) Cùng răng sứ đó nhìn dưới ánh đèn vonfram (2856 K) và (c) Cùng răng sứ đó nhìn dưới ánh sáng huỳnh quang (4000 K).

 

Cũng giống như các loại vật liệu phục hồi, các cây so màu truyền thống cũng cho màu khác nhau khi quan sát dưới những điều kiện ánh sáng khác nhau, gây khó khăn hơn cho việc so màu.

Hiện tượng 2 vật thể trông có vẻ là cùng màu khi quan sát dưới 1 điều kiện nào đó, nhưng lại khác màu khi quan sát dưới điều kiện khác, được gọi là hiện tượng metame.

 

Trong nha khoa, hiện tượng metame rất hay gặp, dẫn đến những sai sót về màu sắc, cuối cùng gây ra nhiều vấn đề như hẹn đi hẹn lại, bệnh nhân không hài lòng hay mất thời gian.

Cách chắc chắn nhất để tránh hiện tượng metame là các vật thể cần so màu phải có đường quang phổ khớp nhau. 2 vật thể có màu mà không có đường quang phổ giống nhau thì có thể sẽ có màu khác nhau dưới điều kiện ánh sáng khác nhau (H3.15 và 3.16).

Hình 3.15. Đường quang phổ của đèn (đường màu xám nhạt) tương đương với điều kiện ánh sáng ban ngày, cùng với 2 vật thể màu xám (đường màu trắng và đường màu đen). Trên thực tế quan sát, 2 vật thể trên có màu xám giống nhau dưới điều kiện ánh sáng này (2 đường quang phổ gần nhau, cắt nhau tại điểm khoảng 500 nm).

 

Hình 3.16. Đường quang phổ của 1 đèn đỏ, chói (đường màu xám nhạt) và 2 vật thể màu xám như hình trên (đường màu trắng và đường màu đen). Trong điệu kiện ánh sáng này, 2 vật thể không còn cho màu xám giống nhau (xảy ra hiện tượng metame) vì 2 đường quang phổ phân kì rõ rệt ở khoảng 700 nm.

 

Mặc dù có nhiều đề xuất nhằm khắc phục hiện tượng metame nhưng cho đến nay, metame vẫn là 1 yếu tố gây ảnh hưởng nhiều đến đến nha khoa thẩm mĩ (H3.17).

Hình 3.17. (a) Hình ảnh lâm sàng 1 mão răng cửa giữa hàm trên (T) dưới điều kiện ánh sáng hiệu chỉnh màu (1750 lux, 5500 K). (b) Cùng mão răng đó dưới ánh sáng huỳnh quang. Chú ý là dưới điều kiện này thì trông màu mão răng có vẻ khá giống màu các răng thật hơn so với hình a. (c) Cùng mão răng đó dưới ánh sáng chói, màu của mão răng trở nên khác hơn hẳn các răng thật còn lại.

 

Để khắc phục hiện tượng metame, đôi khi các bác sĩ phải so màu dưới nhiều điều kiện ánh sáng khác nhau. Ngoài ra còn phải giải thích cho bệnh nhân hiểu là, màu của vật liệu phục hồi trong 1 vài trường hợp, với điều kiện ánh sáng khác nhau sẽ có thể khác nhau.

Xem thêm phần 2 tại đây

Nguồn: Color in Dentistry, A Clinical Guide to Predictable Esthetics – Stephen J. Chu, Irena Sailer, Rade D. Paravina, Adam J, Mieleszko.