August 8, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Gây tê ngoài màng xương (cận chóp) hàm trên

Thuật ngữ thường dùng là gây tê cận chóp, là kĩ thuật được sử dụng nhiều nhất để điều trị răng hàm trên. Thuật ngữ “gây tê cận chóp” trong nha khoa được định nghĩa là bơm dung dịch thuốc tê vào vùng chóp răng được điều trị. Tuy nhiên thực tế trên lâm sàng các bác sĩ đều thực hiện sai kĩ thuật gây tê này mà thay vào đó lại thực hiện kĩ thuật gây tê chặn nhánh (field block) và hiểu sai đó là gây tê cận chóp. Không nên chỉ định bất cứ khi nào điều trị nhiều hơn 2 răng. Việc chích tê nhiều lần đòi hỏi đâm kim nhiều lần và gây đau. Hơn nữa, muốn đạt được tê tủy với nhiều răng bằng kĩ thuật này thì phải sử dụng 1 lượng lớn thuốc tê, dẫn đến nguy cơ biến chứng tại chỗ và toàn thân do ngộ độc.

Tên gọi khác: gây tê cận chóp, gây tê cận màng xương, gây tê ngoài màng xương.

Nhánh thần kinh đích: các nhánh tận.

Vùng tê:

Tủy răng, chân răng, màng xương mặt ngoài, mô liên kết, niêm mạc vùng răng tương ứng (H13.4).

Hình 13.4. Gây tê cận chóp vùng răng trước. Vùng màu vàng là vùng tê.

 

Chỉ định

1. Cần tê tủy răng hàm trên khi điều trị giới hạn 1 – 2 răng.

2. Cần tê mô mềm khi tiểu phẫu ở răng số lượng giới hạn.

Chống chỉ định

1. Nhiễm trùng hoặc viêm cấp tính tại vùng chích.

2. Xương đặc bao phủ quanh chóp răng (chỉ có thể xác định bằng cách chích thử và nhận ra, hầu hết là ở R6 hàm trên ở trẻ em vì nó nằm ở vị trí xương gò má khá dày). Chóp răng cửa giữa ở người trưởng thành cũng có thể bị phủ bởi xương dày (ví dụ vùng mũi).

Ưu điểm

1. Tỉ lệ thành công cao (>95%).

2. Kĩ thuật thực hiện dễ.

3. Ít gây chấn thương.

Nhược điểm

Không áp dụng được cho vùng điều trị rộng vì đòi hỏi phải chích nhiều lần và sử dụng 1 lượng lớn thuốc tê.

Các phương pháp thay thế

Gây tê dây chằng, gây tê trong xương (dưới màng xương), gây tê chặn thần kinh vùng đó.

Kĩ thuật

1. Sử dụng kim ngắn 27 gauge (đường kính lớn).

2. Vị trí đâm kim: nếp gấp má – niêm mạc ngang chóp răng.

3. Mô đích: chóp răng.

4. Điểm mốc:

a. Nếp gấp má – niêm mạc.

b. Thân răng.

c. Đường viền chân răng.

5. Hướng mặt vát kim: về phía xương.

6. Kĩ thuật thực hiện:

a. Chuẩn bị: Lau sạch mô, bôi (xịt) thuốc tê bề mặt. Đợi thuốc tê bề mặt có tác dụng ít nhất trong 2 phút.

b. Kéo căng môi lên, nếu có thể thì nên sử dụng gương (để giảm nguy cơ chấn thương do kim đối với bác sĩ).

c. Giữ ống chích song song với trục răng (H13.5).

Hình 13.5. Ống chích song song với trục răng.

 

e. Đâm kim vào nếp gấp má – niêm mạc phía trên răng cần điều trị.

f. Di chuyển kim lên cao cho đến vị trí chóp răng. Đa số trường hợp chỉ đâm vài mm. Vì kim chỉ nằm trong mô mềm (không chạm xương) nên sẽ không có kháng lực nào khi bơm thuốc.

g. Rút kim ra, đậy nắp kim. Lưu ý không đâm kim nhiều lần vì có thể gây tổn thương mô (tụ máu hoặc dị cảm).

h. Chờ 3 – 5 phút trước khi điều trị.

Dấu hiệu và triệu chứng tê:

1. Chủ quan: cảm giác tê tại vùng chích.

2. Khách quan: thử lạnh hoặc thử điện không đáp ứng.

Nguồn: Handbook of Local Anesthesia – Stanley F. Malamed