October 6, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Giảm khoáng hóa răng cối – răng cửa (Molar Incisor Hypomineralization – MIH)

Giảm khoáng hóa răng cối – răng cửa (MIH) được định nghĩa là sự giảm khoáng hóa có nguồn gốc hệ thống, ảnh hưởng đến các răng số 6 và răng cửa vĩnh viễn. Trên lâm sàng, MIH được đặc trưng bởi lớp men đục, ranh giới rõ ràng với phần mô răng còn lại, sự phá hủy mô răng nhanh chóng sau khi răng mọc lên do men răng mềm và xốp. Việc chẩn đoán sớm rất quan trọng vì nguy cơ phá hủy cấu trúc răng xảy ra rất nhanh.

Chẩn đoán sai hoặc chậm trễ có thể dẫn đến sự phát triển nhanh của tổn thương, răng nhạy cảm với hơi lạnh hoặc nóng, sâu răng phát triển nhanh, viêm tủy, phá hủy mô răng trầm trọng và cuối cùng là mất sớm các răng 6 vĩnh viễn.

Trong y văn, MIH còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác như: đục men không do Fluoride, loạn sản men nội sinh, đốm đục men răng tự phát và giảm khoáng hóa men răng tự phát. Tình trạng này là do chức năng của các nguyên bào men bị phá vỡ trong giai đoạn chuyển tiếp và trưởng thành của sự sinh men. Răng cối luôn luôn là răng bị ảnh hưởng, và rất hay gặp sự ảnh hưởng phối hợp trên cả răng cối và răng cửa. Số lượng răng cối bị ảnh hưởng và mức độ giảm khoáng hóa rất đa dạng (Fagrell, 2011).

 

Chẩn đoán MIH:

Trước hết phải kiểm tra kĩ các răng số 6 và sau đó là các răng cửa vĩnh viễn. 8 tuổi là độ tuổi phù hợp để chẩn đoán MIH vì tất cả R6 và răng cửa đã mọc lên hoàn toàn. Để chẩn đoán xác định MIH thì phải có ít nhất 1 R6 bị ảnh hưởng. Đục men răng có thể có màu trắng, vàng hoặc nâu, có ranh giới rõ ràng với phần men răng lành. Hầu hết trường hợp, đục men chỉ giới hạn ở 1/3 thân răng phía rìa cắn các răng cửa hoặc đỉnh múi các răng cối. Men răng giảm khoáng hóa có vẻ mềm, xốp, nhìn giống như phấn màu hoặc phô mai. Ở Hà Lan, thuật ngữ “răng cối phô mai” được sử dụng để mô tả các R6 bị ảnh hưởng. Sự phá hủy mô răng có thể xảy ra ngay sau khi răng mọc lên, đối với những trường hợp nghiêm trọng, đôi khi có nguyên nhân là do lực ăn nhai gây gãy vỡ phần men giòn và xốp. Sau khi lộ ngà, răng trở nên nhạy cảm và sâu răng dễ dàng phát triển hơn. Răng nhạy cảm làm bệnh nhân khó ăn nhai và khó chải răng, từ đó gây tổn thương trầm trọng hơn trên các răng này. Đục men màu vàng hoặc nâu thì dễ gây phá hủy cấu trúc răng hơn so với đục men màu trắng (Fragelli, 2015).

Mức độ nghiêm trọng của MIH rất khác nhau giữa nhiều bệnh nhân, thậm chí trong cùng 1 bệnh nhân, các R6 bị ảnh hưởng cũng ở những mức độ khác nhau. Càng có nhiều răng cối và răng cửa bị ảnh hưởng thì tổn thương càng nặng nề hơn (Lygidakis, 2010).

Mất R6 trên miệng ở 1 bệnh nhân vệ sinh răng miệng không tệ, đồng thời có tổn thương trên răng cửa vĩnh viễn cũng có thể nghi ngờ là MIH.

Cần lưu ý rằng, nếu chỉ phát hiện đục men ở răng cửa thì nó có thể là 1 bệnh lí khác cần chẩn đoán phân biệt với MIH. 

Chẩn đoán phân biệt MIH với các bất thường trên răng sau đây:

– Loạn sản men (Enamel hypoplasia)

Men răng có thể hiện diện 1 phần hoặc là biến mất hoàn toàn. Có thể thấy các đốm trắng trên men nằm biệt lập và đối xứng nhau, các rãnh dọc hoặc rãnh ngang, các hố sâu, đường viền trơn láng nơi tiếp giáp với phần men lành mạnh.

Loạn sản men

 

Sinh men bất toàn (Amelogenesis Imperfecta)

Ảnh hưởng đến toàn bộ răng trên hàm, thường liên quan đến tiền sử gia đình, trên X quang có thể thấy hình ảnh răng bò mộng. Các R6 bị ảnh hưởng giống nhau.

Sinh men bất toàn.

 

Nhiễm Fluoride

Các tổn thương trên men liên quan đến việc tiếp xúc nhiều với nồng độ Fluoride cao trong quá trình phát triển của răng. Số lượng răng bị ảnh hưởng liên quan đến thời gian tiếp xúc với Fluoride.

 

Điều trị MIH

Điều trị MIH gặp nhiều khó khăn như: nhạy cảm, nguy cơ tích tụ mảng bám cao, sâu răng phát triển nhanh, viêm tủy, bệnh nhân nhỏ tuổi khó hợp tác, khó chịu khi điều trị, miếng trám bị vỡ nhiều lần và sự phát triển khó lường của những tổn thương nhỏ ban đầu.

Phương pháp điều trị MIH phụ thuộc vào các yếu tố sau:

– Mức độ lan rộng và mức độ nặng của tổn thương.

– Mức độ mọc của răng trong miệng.

– Khớp cắn.

– Mức độ hợp tác của trẻ.

– Tiên lượng về lâu dài của răng bị ảnh hưởng.

– Thói quen ăn uống.

– Điều kiện kinh tế.

Các phương án điều trị gồm:

– Chẩn đoán sớm +++

– Kiểm soát nguy cơ sâu răng.

– Tái khoáng hóa.

– Trám phục hồi (composite) hoặc mão,

– Veneer cho răng cửa.

Điều trị phòng ngừa rất quan trọng trong giai đoạn sớm, ngay khi răng mới mọc, vì răng rất dễ bị phá hủy và bị sâu răng tấn công.

Khi chỉ định điều trị phục hồi thì bắt buộc phải gây tê, tuy nhiên trong 1 số trường hợp khó đạt được tê răng cối lớn.

Trám tái tạo bao gồm: GIC, GIC phối hợp nhựa (RMGI), composite phối hợp polyacid (PMRC), composite, amalgam hoặc mão kim loại sẵn (SSC).

Cần tái khám thường xuyên để kiểm tra chất lượng miếng trám, vì sự phá hủy men răng có thể xảy ra ngay tại bờ miếng trám.

Các phục hồi đúc có thể là mão hoặc veneer, không nên chỉ định vào giai đoạn sớm, khi răng mới mọc (buồng tủy to, chiều cao thân răng thấp).

Đôi khi những R6 bị ảnh hưởng trầm trọng, tiên lượng không tốt về lâu dài thì nên chỉ định nhổ, sau đó kết hợp điều trị chỉnh nha.

Nếu có dự định chỉnh nha thì độ tuổi lí tưởng để nhổ R6 bị tổn thương là 8.5 đến 9 tuổi, cho phép R7 di gần về vị trí R6 để thiết lập khớp cắn ổn định.

Ca lâm sàng 1

Bệnh nhân nữ 20 tuổi, không hài lòng vì răng cửa mất thẩm mĩ (H2, a,b,c).

Hình 2.

 

R6 được trám phục hồi bằng GIC (H3, a,b,c).

Hình 3.

 

Đối với răng cửa thì được điều trị bằng cách xoi mòn vi thể (microabration) sau đó trám phục hồi bằng composite.

Hình 4. Vi xoi mòn răng cửa trên.

 

Hình 5. Vi xoi mòn răng cửa dưới.

 

Hình 6. Sau khi xoi mòn.

 

Hình 7. Etching bằng acid phosphoric 37% răng cửa trên.

 

Hình 8. Etching bằng acid phosphoric 37% răng cửa dưới.

 

Hình 9. Kết quả sau khi trám và đánh bóng răng.

Ca lâm sàng 2

Bệnh nhân 24 tuổi, than phiền vì thẩm mĩ 2 răng cửa 11 và 21. Đốm trắng mặt ngoài 2 răng này khá rõ (H10).

Hình 10.

 

Các R6 có tổn thương giảm khoáng hóa màu vàng nâu, lỗ sâu mặt nhai và miếng trám amalgam (H11).

Hình 11. Các tổn thương trên R6.

 

Các răng cửa 11, 21 được chỉ định trám composite, các R6 được chỉ định bọc mão (H12-15).

Hình 12. Mài 1 ít bề mặt đốm trắng bằng mũi mịn.

 

Hình 13. Etching bằng acid phosphoric 37%.

 

Hình 14. Bonding.

 

Hình 15. Sau khi trám.

 

Ca lâm sàng 3

Bệnh nhân nữ 9 tuổi, than phiền về đốm màu trên răng 21 và 32. Mặt ngoài 2 răng này có đốm đục màu vàng (H16, 17).

Hình 16. Nụ cười của bệnh nhân.

 

Hình 17. R21 và R32 có đốm đục màu vàng.

 

R16 và R26 còn nguyên vẹn (H18).

Hình 18.

 

R46 đã được bọc mão SSC (thép không gỉ làm sẵn) và R36 có lỗ sâu (H19).

Hình 19.

 

R21 và 32 được chỉ định trám composite. R36 chỉ định trám GIC (H20-25).

Hình 20. Mài 1 ít bề mặt tổn thương R21.

 

Hình 21. Bề mặt R21 sau khi mài sửa soạn.

 

Hình 22. Mài sửa soạn R32.

 

Hình 23. R32 sau khi mài sửa soạn.

 

Hình 24. R21 và 32 sau khi trám bằng composite Nanohybrid.

 

Hình 25. R36 sau khi trám GIC.

 

Nguồn: http://www.dentalnews.com/2017/03/28/molar-incisor-hypomineralization/