April 22, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Hướng dẫn cách gắn mắc cài – P2

Xem lại phần1 tại đây.

 

Các thay đổi về trục mắc cài trong những trường hợp đặc biệt

Những thay đổi này là nhằm mục đích:

1. Tránh làm các chân răng chụm sát vào nhau gây tiêu chân răng.

2. Tránh gây tiêu chân răng do mini vis chỉnh nha (hình 7.17).

 

Hình 7.17. Mini vis chỉnh nha khi làm lún các răng cửa hàm trên. Lưu ý vị trí 2 răng cửa bên. Cánh phía nướu của mắc cài hơi lệch về phía xa do đó sẽ làm 2 chân răng này nghiêng về phía gần, do đó tạo khoảng hở tốt để cắm vis mà không làm ảnh hưởng đến chân răng. Sau khi đã làm lún xong và tháo vis thì gắn lại mắc cài để có độ nghiêng chân răng cửa bên thích hợp.

 

3. Để tránh tiêu chân răng do các răng mọc ngầm dưới xương (chẳng hạn như răng nanh ngầm hoặc răng mesiodens).

 

Hình 7.18. Răng mesiodens nằm ở giữa 2 chân răng cửa hàm trên. Gắn mắc cài sao cho cánh mắc cài phía nướu nằm lệch về phía gần, sẽ giúp xoay chân răng cửa hàm trên ra xa răng mesiodens và tạo lối vào dễ dàng hơn cho việc nhổ lấy răng ngầm mà không gây tổn thương chân răng cửa. Sau khi nhổ răng thì phải gắn lại mắc cài nếu không sẽ tạo tam giác đen ở giữa 2 răng cửa.

 

 

Hình 7.19. Một bệnh nhân 16 tuổi có răng nanh ngầm hai bên, tương quan khớp cắn hạng II trên nền xương hạng II. R14 và R25 có chân răng cong về phía gần. Kế hoạch điều trị là nhổ hai R4 hàm trên và hàm dưới chỉ nhổ R44. A, Khâu được gắn đầu tiên và tất cả mắc cài hàm trên được gắn theo hướng dẫn của dây 19 x 25. Gắn mắc cài theo dây hướng dẫn sẽ tránh được giai đoạn làm thẳng (alignment & leveling) quá dài trước khi bộc lộ răng nanh và chân răng cũng sẽ vẫn ở đúng vị trí của chúng. R4 không được gắn mắc cài vì chúng sẽ được nhổ. Răng cửa bên cũng không được gắn mắc cài vì chân răng của chúng nằm gần các răng nanh ngầm. B, Sau khi răng nanh được kéo ra đúng vị trí, cả răng cửa bên và răng nanh đều được gắn mắc cài. Vị trí mắc cài của tất cả các răng hàm trên được điều chỉnh lại. Kỹ thuật phân đoạn được sử dụng ở hàm dưới để giải chen chúc và điều chỉnh đường giữa.

 

 

4. Để tạo chỗ cho thân răng giải phẫu đạt được tỉ lệ vàng về diện tiếp xúc và khoang tiếp cận (embrasure).

5. Trong một số trường hợp cần phẫu thuật, mắc cài được định vị để xoay chân răng ra xa vị trí cần phẫu thuật.

6. Nếu răng có kích thước hơi nhỏ, chẳng hạn như răng cửa bên hình chêm, thì tốt hơn là nên tăng độ nghiêng của răng rồi sau đó đắp composite lên.

 

Xác định vị trí gắn mắc cài theo chiều dọc

Có nhiều hướng dẫn cách định vị mắc cài theo chiều dọc từ rất nhiều tác giả khác nhau như Andrew, Roth, Alexander, Bishara, McLaughlin (MBT) với nhiều đặc điểm và hạn chế riêng. Trong bài này chỉ đề cập đến phương pháp của Kalange.

Phương pháp của Kalange thì được áp dụng nhiều cho gắn mắc cài bằng kĩ thuật gián tiếp , nhưng vẫn có thể áp dụng cho gắn mắc cài trực tiếp.

1. Lựa chọn khâu vừa vặn với R6 ở mỗi phần hàm. Đo khoảng cách từ viền mặt nhai của khâu cho đến slot. Trong trường hợp răng cối chỉ gắn tube chứ không gắn khâu thì vẽ một  đường ngang lên mặt ngoài thân răng cối nối gờ phía gần và gờ phía xa. Slot của ống nên nằm dưới đường này từ 2 – 2.5 mm.

Đường vẽ được vẽ bằng bút chì lên mẫu hàm trong trường hợp gắn mắc cài gián tiếp và vẽ lên răng thật trong trường hợp gắn mắc cài trực tiếp (hình 7.20).

 

Hình 7.20. Các đường ngang được vẽ lên răng cối lớn. Đường ở dưới là đường nối gờ bên, đường phía trên là đường slot của tube răng cối.

 

 

2. Nối gờ bên gần và xa ở răng cối nhỏ và vẽ đường nối này lên mặt ngoài của răng cối nhỏ. Vẽ thêm một đường khác nằm về phía nướu so với đường nối gờ bên vừa vẽ. Khoảng cách giữa hai đường này nên bằng với khoảng cách đo được từ bờ khâu cho đến slot vừa đo, còn nếu không gắn khâu mà gắn tube thì khoảng cách này là 2 – 2.5 mm (hình 7.21).

 

Hình 7.21. Đường nối gờ bên, đường slot và trục răng được vẽ trên R4 và R5.

 

 

Đường thứ hai vừa vẽ này được gọi là đường slot. Nên gắn mắc cài sao cho trục slot mắc cài trùng với đường slot này.

Vẽ một đường ở trung tâm răng theo chiều GX và đi theo trục răng. Cánh và rãnh định vị mắc cài nên song song với đường này.

3. Đo khoảng cách từ đỉnh múi răng cối nhỏ, tốt nhất là từ R4 ở mỗi phần hàm đến đường slot và chuyển giá trị này đến răng cửa giữa phần hàm tương ứng (hình 7.22).

 

Hình 7.22. Độ cao mắc cài răng cửa giữa được dựa trên đường slot ở răng cối nhỏ.

 

Do vậy đường slot của răng cối nhỏ và răng cửa giữa ngang nhau nên đỉnh múi răng cối nhỏ và rìa cắn răng cửa giữa cũng ngang nhau. Khoảng cách này lí tưởng nhất là 4 mm ở răng cửa hàm dưới và 4.5 mm ở răng cửa hàm trên.

Trong trường hợp cắn hở thì khoảng cách này phải được tăng thêm còn trong trường hợp cắn sâu thì nên giảm xuống. Đường dọc là đường trục răng ở trung tâm răng theo chiều GX.

4. Đường slot của răng cửa bên hàm trên nên nhỏ hơn 0.5 mm so với răng cửa giữa hàm trên. Còn với hàm dưới thì đường slot răng cửa giữa và răng cửa bên là ngang nhau (hình 7.23).

 

Hình 7.23. Ở hàm trên, khoảng cách từ rìa cắn răng cửa giữa đến slot được đo và giảm 0,5 mm để chuyển sang răng cửa bên hàm trên. Ở hàm dưới, răng cửa giữa và răng cửa bên được gắn ở mức ngang bằng nhau.

 

 

5. Khoảng cách giữa slot răng nanh hàm trên và hàm dưới phải lớn hơn 1 mm so với slot mắc cài răng cửa giữa tương ứng. Đối với răng nanh thì đỉnh múi răng nanh nên được lấy làm điểm tham chiếu (Hình 7.24).

 

Hình 7.24. Đường slot mắc cài răng nanh được đo và vẽ trên răng.

 

 

6. Các đường thẳng đứng cũng được vẽ trên tất cả các răng để xác định điểm chính giữa theo chiều gần xa của thân răng.

 

Hạn chế của phương pháp Kalange:

Phương pháp Kalange rất tốt để làm đều các gờ bên và mang lại tính thẩm mỹ phía trước tốt do rìa cắn răng trước ở vị trí tối ưu.

Nhưng phương pháp này bỏ qua sự thay đổi chiều cao thân răng của từng răng trước. Gắn mắc cài quá sát về phía nướu hoặc phía rìa cắn sẽ dẫn đến độ torque khác với độ torque cố định trong mắc cài.

Khi sử dụng phương pháp định vị mắc cài Kalange, các đường dán trực tiếp được vẽ bằng bút chì trên răng. Một số bác sĩ chỉ ra rằng những đường bút chì này sẽ cản trở độ bền dán.

Để khắc phục vấn đề này, khi vẽ cần chú ý không được vẽ vượt qua vị trí sẽ gắn mắc cài sau cùng. Ngay cả khi những đường này không cắt ngang qua vị trí gắn mắc cài, chúng vẫn đưa ra hướng dẫn thực tế để định hướng mắc cài chính xác (Hình 7.25).

 

Hình 7.25. Các đường vẽ trên mặt ngoài của răng có thể cho thấy rõ định hướng mắc cài mà không cần vẽ băng qua khu vực gắn mắc cài.

 

 

Áp dụng việc đo chiều cao từ mép khâu đến slot cũng có thể dẫn đến lỗi mắc cài theo chiều dọc. Hầu hết các công ty đều sản xuất khâu răng cối lớn có “cạnh bên” phía mặt nhai nằm về phía nướu nhiều hơn là cạnh ngoài và cạnh trong, đặc biệt rõ ràng hơn ở hàm trên (Hình 7.26).

 

Hình 7.26. Cạnh bên của khâu thường có cao độ khác với các cạnh ngoài hoặc trong của chúng.

 

 

Vì “cạnh bên” của khâu khi gắn phải nằm ngang mức với gờ bên của răng nên khoảng cách từ cạnh ngoài sẽ dẫn đến mắc cài bị lỗi định vị.

Cho nên, phải tính đến chênh lệch chiều cao giữa cạnh ngoài và cạnh bên của khâu trong tính toán cuối cùng hoặc là vẽ đường gờ bên và đường slot trên răng cối lớn ngay cả khi gắn khâu.

 

Xem tiếp phần 3 tại đây.

 

Nguồn: Orthodontic brackets selection, placement and debonding – Dr. Haris Khan.

Nhasiupdate
Nhasiupdate
Hãy gửi tin nhắn cho mình nhé!
Send a message