April 29, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Hướng dẫn cách gắn mắc cài – P3

Xem lại phần 1 và 2 tại đây.

 

Các thay đổi về vị trí mắc cài theo chiều dọc trong những trường hợp đặc biệt

Vị trí mắc cài theo chiều dọc được thay đổi trong một số trường hợp đặc biệt để mang lại khớp cắn phù hợp và tính thẩm mỹ tối ưu hơn khi kết thúc điều trị.

Dưới đây là một số tình huống lâm sàng trong đó khuyến nghị thay đổi vị trí mắc cài:

1. Cắn hở

Trong các trường hợp cắn hở nếu kế hoạch điều trị không phẫu thuật thì nhiều bác sĩ khuyên nên gắn mắc cài về phía nướu nhiều hơn ở những răng đang cắn hở. Trong hầu hết các trường hợp cắn hở, chỉ có răng cửa hàm trên góp phần gây ra cắn hở và do đó thay đổi vị trí mắc cài chỉ nên thực hiện ở hàm trên. Nhưng nếu hàm dưới có đường cong Spee ngược thì cũng nên thay đổi vị trí mắc cài cho cả hàm dưới.

Alexander đề xuất với các trường hợp cắn hở phía trước, răng cắn hở nên được gắn mắc cài về phía nướu nhiều hơn 0,5 mm trong khi những răng không bị cắn hở thì gắn nhiều hơn về phía mặt nhai 0,5 mm hoặc gắn ở độ cao bình thường nếu sử dụng hệ thống MBT.

 

Hình 7.2. Cắn hở răng trước ở bệnh nhân người lớn. Cắn hở có cả yếu tố răng và xương. Về răng thì khớp cắn hở này do cả răng trước hàm trên và hàm dưới. Ca này đã được lên kế hoạch nhổ R4 trên và nhổ R5 dưới. Vì chỉ có các răng trước góp phần gây ra cắn hở nên mắc cài được gắn về phía nướu nhiều hơn 0,5mm từ răng nanh này đến răng nanh bên kia với hệ thống MBT. Vị trí mắc cài cũng bị thay đổi ở răng sau. Ở cả răng sau hàm trên và hàm dưới, mắc cài được gắn về phía mặt nhai nhiều hơn 0,5mm.

 

 

Hình 7.3 Một bệnh nhân trưởng thành bị cắn hở do xương, được điều trị phẫu thuật và không nhổ răng. Trong các trường hợp phẫu thuật, không điều trị bù trừ cắn hở bằng cách thay đổi vị trí mắc cài.

 

2. Cắn sâu

Trong trường hợp cắn sâu, mắc cài được gắn theo các quy tắc ngược lại với cắn hở. Trong hệ thống MBT răng có cắn sâu được gắn về phía rìa cắn thêm 0,5 mm.

 

Hình 7.4. Ca hạng II chi 2 bị cắn sâu. Trường hợp này đã được lên kế hoạch nhổ R4 trên. Sử dụng mắc cài MBT. Ban đầu chỉ gắn mắc cài ở răng hàm trên. Trong các trường hợp cắn sâu, thường không thể gắn mắc cài răng hàm dưới ngay khi bắt đầu điều trị nếu không nâng khớp. Mắc cài 6 răng trước hàm trên được gắn về phía rìa cắn nhiều hơn 0,5 mm so với vị trí bình thường. Khi các răng cửa hàm trên đã chìa ra và khớp cắn vừa đủ mở để gắn mắc cài hàm dưới thì mắc cài 6 răng trước hàm dưới cũng được gắn về phía rìa cắn nhiều hơn 0,5 mm. Tất cả các mắc cài còn lại đều được gắn ở độ cao bình thường.

 

 

3. Cạnh răng cửa không đều

Nếu có cạnh răng cửa không đều hoặc đỉnh múi dài, bác sĩ có thể áp dụng 3 lựa chọn sau để xử lý:

  1. Mài chỉnh lại rìa cắn hoặc đỉnh múi trước khi gắn mắc cài.
  2. Mài chỉnh lại rìa cắn hoặc đỉnh múi sau khi kết thúc điều trị.
  3. Trám composite các rìa cắn và đỉnh múi.

Lý tưởng nhất là răng nên được mài chỉnh hình dạng lại trước khi gắn mắc cài.

Nếu răng đã được điều chỉnh hình dáng lại trước khi điều trị chỉnh nha thì không cần phải thay đổi chiều cao mắc cài. Nhưng nếu dự định điều chỉnh hình dáng răng sau khi kết thúc điều trị chỉnh nha thì cần thay đổi độ cao mắc cài khi gắn.

 

Hình 7.5. Một bệnh nhân trẻ có xương hạng II nặng. Rìa cắn răng cửa không đều. Răng cửa giữa hàm trên bên trái bị gãy do chấn thương và được dự kiến phục hồi lại bằng trám composite trước khi gắn mắc cài.

 

 

4. Đỉnh múi răng nanh quá dài

Trong trường hợp đỉnh múi răng nanh dài, tốt hơn nên gắn mắc cài về phía nướu nhiều hơn 0,5mm so với giá trị tiêu chuẩn và mài chỉnh lại đỉnh múi răng nanh khi kết thúc điều trị. Cũng có thể mài chỉnh lại đỉnh múi răng nanh trước khi bắt đầu điều trị và vẫn gắn mắc cài ở vị trí lý tưởng. Đỉnh múi răng nanh dài thường thấy ở những răng nanh bị lệch ngầm.

 

Hình 7.6. Một trường hợp đỉnh múi răng nanh dài do thiếu chức năng nên không bị mòn. Mắc cài được gắn về phía nướu thêm 1 mm và khi răng nanh được chỉnh vào khớp cắn cuối cùng thì đỉnh múi được mài chỉnh lại cho tròn (bớt đi 0,5 mm) và 0.5 mm còn lại trên răng nanh để có hình dạng nhô ra phù hợp.

 

 

Độ nhô của răng nanh được giữ lại để phù hợp với tình trạng tái phát theo chiều dọc vì răng nanh ở vị trí cao trong cung răng. Để nguyên đỉnh múi răng nanh như vậy và gắn mắc cài ở vị trí bình thường sẽ để lại những vùng khớp cắn hở nhỏ ở phía trong và phía xa của răng nanh.

 

5. Răng nanh bị mòn

Trong trường hợp răng nanh bị mòn, mắc cài được gắn thêm về phía nướu 0,5 – 1 mm, tùy thuộc vào mức độ mòn răng. Đỉnh múi răng nanh được mài chỉnh lại khi kết thúc điều trị.

Gắn mắc cài về phía nướu nhiều hơn sẽ kéo răng nanh trồi xuống. Khi đó,  phần cingulum dày của răng nanh sẽ tiếp xúc với răng hàm dưới và ngăn cản chuyển động đi xuống nữa của răng nanh. Do đó trên lâm sàng tốt nhất là mài chỉnh lại phần mặt trong của răng nanh, nếu không sẽ dẫn đến khớp cắn kém và tiếp xúc sớm.

 

Hình 7.7. Một trường hợp răng nanh hàm trên bị mòn hai bên. Mắc cài răng nanh được gắn về phía nướu thêm 0,5mm nhưng không mài chỉnh làm giảm độ dày mặt trong. Mặt trong của răng nanh bị chạm khớp sớm trước khi răng nanh ở vị trí ổn định. Ngay cả dây thun cố định cũng không thể kéo răng nanh xuống thêm.

 

 

6. Răng mọc lệch cao

Các răng nằm ở vị trí lệch cao nên được gắn mắc cài cao hơn vị trí khuyến nghị từ 0,5 đến 1mm để bù trừ tái phát. Răng càng cao trong cung hàm thì hệ số tái phát càng cần được thêm vào.

 

Hình 7.8. Răng cửa bên hàm trên mọc lệch cao, nên mắc cài được gắn cao hơn 1mm so với độ cao bình thường để phù hợp với yếu tố tái phát. Tất cả các mắc cài khác được gắn ở độ cao bình thường.

 

 

7. Tụt nướu

Những răng bị tụt nướu lên tới 1,5 mm có thể được gắn mắc cài nhiều hơn về phía nướu để khi kết thúc điều trị, viền nướu của chúng sẽ có độ cao lý tưởng. Nhưng rìa cắn hoặc cạnh mặt nhai cần được mài chỉnh lại cho đều nhau. Ở những răng bị tụt nướu trên 1,5 mm, nên tham khảo ý kiến của bác sĩ nha chu và nhiều khi ghép nướu là một lựa chọn khả thi hơn là thay đổi vị trí mắc cài.

 

Tầm quan trọng của vị trí mắc cài theo chiều dọc

Vị trí của mắc cài theo chiều dọc có liên quan đến độ torque của mắc cài. Sự thay đổi vị trí theo chiều dọc sẽ có tác động nhỏ lên độ torque của các răng có mặt ngoài gần như phẳng (chẳng hạn như răng cửa) trong khi các răng có mặt ngoài lồi như răng nanh và răng cối nhỏ thì có ảnh hưởng lớn nếu thay đổi vị trí mắc cài theo chiều dọc. Hình 7.9 mô tả sơ đồ sự thay đổi mắc cài theo chiều dọc và ảnh hưởng của nó đến vị trí chân răng.

 

Hình 7.9. A, Các mắc cài được gắn ở các độ cao khác nhau ở răng cửa giữa hàm trên. B, Việc đặt các mắc cài chồng lên nhau cho thấy mắc cài ở gần rìa cắn sẽ thể hiện độ torque dương hơn trong khi mắc cài ở gần nướu sẽ thể hiện torque âm hơn. C, Mắc cài gắn trên răng cửa giữa hàm trên ở các độ cao khác nhau. Rõ ràng trong hình là sự thay đổi nhỏ trong vị trí mắc cài có thể chấp nhận được nhưng những thay đổi lớn sẽ làm cho chân răng chạm vỏ xương, dẫn đến tăng khả năng tiêu chân răng. Nếu chân răng đi qua vỏ xương, răng sẽ bị lung lay nghiêm trọng và có thể dẫn đến chỉ định nhổ.

 

Thước định vị mắc cài (thước đo mắc cài)

Thước đo mắc cài được sử dụng để đảm bảo độ chính xác theo chiều dọc của mắc cài trên răng. Có nhiều loại dụng cụ khác nhau đã được khuyến nghị để kiểm tra độ chính xác theo chiều dọc của mắc cài, từ cây đo túi nha chu đến thước đo nhưng trong chỉnh nha hiện đại, có 2 loại thước đo hoặc các biến thể của chúng được sử dụng nhiều nhất là:

  1. Thước đo mắc cài hình ngôi sao hoặc thước đo Boone.

 

Hình 7.10. Thước đo Boone.

 

2.Thước đo mắc cài hình que thẳng hoặc thước Dougherty.

 

Hình 7.11. Thước đo mắc cài thẳng cho mắc cài slot 18 và 22.

 

 

Hình 7.12. Thước đo khuyến nghị trong hệ thống MBT.

 

Thước đo thẳng là loại được nhiều bác sĩ chỉnh nha yêu thích.

 

Cấu tạo thước đo mắc cài

This content has been restricted to logged-in users only. Please log in to view this content.

🔒 Nội dung tiếp theo chỉ dành cho thành viên.
👉 Vui lòng đăng nhập để xem tiếp.