October 29, 2020

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Các bất thường về màu sắc răng

Nhiễm màu nội sinh

Thay đổi màu răng do yếu tố gen hoặc các yếu tố mắc phải làm ảnh hưởng đến cấu trúc răng, làm cho các tác nhân màu thâm nhập sâu vào cấu trúc răng. Những yếu tố mắc phải gây đổi màu nội sinh gồm: trám răng, chấn thương, nhiễm trùng làm răng chết tủy, sử dụng thuốc (như tetracyclin hoặc ciprofloxacin), các chất hóa học (như Fluoride), các bệnh lí đặc biệt (như viêm gan, thận..)

Răng chết tủy

Là nguyên nhân thường gặp làm cho răng đổi màu đen (vàng nâu hay xám).

Hình 26.1. Nhiễm màu nội sinh: răng chết tủy.

 

Nếu răng chết tủy nhanh (trong vòng vài tuần) thì răng có thể đổi màu hồng hoặc tím. Màu hồng đặc trưng ở răng chết tủy chủ yếu dọc theo cổ răng hơn là rìa cắn và được gọi là răng hồng Mummery.

Hình 26.2. Nhiễm màu nội sinh: răng hồng Mummery.

 

Các dấu hiệu thường thấy ở răng chết tủy thường là nứt, gãy dọc, sâu lớn hoặc miếng trám lớn. Miếng trám Amalgam cũng góp phần gây đổi màu răng (xám xanh) do giảm độ trong của răng và thấm các phân tử kim loại vào ống ngà.

Nhiễm Tetracycline

Tetracycline là nhóm kháng sinh ức chế tổng hợp protein ở 1 số chủng vi khuẩn nhất định. Tetracycline thường được chỉ định điều trị các nhiễm trùng da và mô nha chu cũng như nấm Chlamydial, các chủng vi khuẩn lậu kháng Penicillin. Thai nhi và trẻ nhỏ hấp thu Tetracycline có khuynh hướng đổi màu răng vĩnh viễn ở những mức độ khác nhau. Răng có màu vàng nhạt khi dùng Teramycin, màu vàng với Achromycin, màu xanh hoặc xám đen với Tetracycline minocycline tổng hợp.

Doxycycline dường như không gây nhiễm màu răng khi sử dụng điều trị ngắn hạn ở trẻ em.

Chẩn đoán xác định bằng cách chiếu đèn cực tím (ultraviolet light) thì những răng này sẽ phát màu vàng chói.

Người trưởng thành điều trị Tetracycline dài hạn cũng được ghi nhận nhiễm màu răng vĩnh viễn. Do vậy, nên sử dụng các loại kháng sinh khác thay thế Tetracycline ở những trẻ < 8 tuổi, và không nên chỉ định Tetracycline dài hạn ở người lớn.

Hình 26.3. Nhiễm màu nội sinh: nhiễm Tetracycline.

 

Nhiễm Fluoride

Là sự nhiễm màu của men răng khi nồng độ Fluoride quá cao trong máu và huyết thanh. Nồng độ Fluoride tối ưu trong nước uống là từ 0.7 – 1 ppm. Ở nồng độ này, Fluoride giúp cấu trúc men răng cứng chắc và tăng khả năng đề kháng với sâu răng. Ở nồng độ cao Fluoride có thể gây cản trở sự canxi hóa. Nhiễm Fluoride nhẹ có biểu hiện các đốm trắng đục trên men. Những đốm trắng này thường nằm gần rìa cắn và múi răng. Nhiễm Fluoride vừa và nặng có thể biểu hiện đốm vàng hoặc nâu, vùng lõm trên men màu nâu. Ở những trường hợp nghiêm trọng thì thân răng có thể bị phá hủy. Răng cửa giữa hàm trên thường bị ảnh hưởng hơn răng hàm dưới.

Hình 26.4. Nhiễm màu nội sinh: Nhiễm Fluoride mức độ trung bình.

 

Nhiễm màu ngoại sinh

Là sự bám dính các chất màu hoặc vi khuẩn lên bề mặt men răng. Đa số sự nhiễm màu này nằm ở vị trí cổ răng. Vi khuẩn thường gây màu xanh hoặc nâu, do tương tác giữa vi khuẩn với Sắt Sulfide hay Sắt trong nước bọt và dịch nướu.

Hình 26.6. Nhiễm màu ngoại sinh do vi khuẩn.

 

Sự nhiễm màu thường gặp ở trẻ em và những bệnh nhân vệ sinh răng miệng kém bị viêm nướu, máu chảy từ nướu răng gây phân tán hemoglobin vào các sắc tố xanh hoặc nâu trên răng. Thức uống có màu như trà, cà phê hay Chlorhexidine, hít khói thuốc lá cũng có thể gây đổi màu răng đen hoặc nâu. Những vết màu này đậm nhất là ở vùng cổ răng.

Hình 26.5. Nhiễm màu ngoại sinh: nhiễm Chlorhexidine.

 

Hình 26.7. Nhiễm màu ngoại sinh: do thuốc lá và cà phê.

 

Nguồn: Color Atlas of Common Diseases – Robert P. Langlais, Craig S. Miller, Jill S. Gehrig.