June 13, 2026

NhasiUpdate

Chuyên trang RHM

Các bất thường về số lượng răng

Thiếu răng

Thiếu răng (hypodontia) là hậu quả của các khiếm khuyết về gen trong quá trình tạo răng, thường là các gen MSX1, PAX9, EDA và AXIN2. Các yếu tố môi trường độc hại cũng có thể góp phần gây ra bệnh. Liệu pháp xạ trị đầu mặt cổ ở trẻ nhỏ hoặc bệnh sởi Đức (rubella) ở bà mẹ trong thời kì mang thai cũng được cho là có liên quan. Thiếu răng có thể ảnh hưởng lên cả hai hệ răng, nhưng hay gặp ở hệ răng vĩnh viễn hơn. Thiếu răng thường có tính di truyền nên trong gia đình có thể gặp trường hợp cùng thiếu các răng như nhau.

Răng thường thiếu nhất là R8, tiếp theo là R5 dưới, đến R5 trên và cuối cùng là răng cửa bên hàm trên.

Thiếu răng bẩm sinh có thể có liên quan đến khe hở môi vòm miệng và hơn 100 hội chứng khác nhau, chẳng hạn như hội chứng Down, Hajdu-Cheney, Rieger..

 

Hình 18.1. Thiếu răng cửa dưới bẩm sinh.

 

Hình 18.2. Thiếu răng cửa bên hàm trên bẩm sinh.

 

Hình 18.3. Thiếu răng cửa bên hàm trên bẩm sinh.

 

Cứng khớp (ankylosis) thường có liên hệ với bệnh nhân thiếu răng (hypodontia). Được định nghĩa là răng bị mất hệ thống dây chằng nha chu, dung hợp với xương ổ răng. Cứng khớp hay gặp nhất là khi thiếu mầm răng 5 vĩnh viễn, khiến cho R5 sữa không thay.

Cứng khớp cũng có thể xảy ra ở bất kì răng nào sau chấn thương, cấy chuyển răng, cắm lại răng hoặc răng có nhiễm trùng mãn tính. Cứng khớp thường được chẩn đoán vào giai đoạn răng hỗn hợp, khi thấy răng đó hơi thấp hơn răng kế cận. Răng kế thường mọc nghiêng về răng cứng khớp, và răng đối diện mọc hơi dài ra. Gõ răng cứng khớp sẽ tạo ra tiếng đục hơn so với các răng khác. Giữ lại răng này thường đòi hỏi phải làm phục hình để đạt được khớp cắn tối ưu.

 

Hình 18.5. R5 sữa dưới cứng khớp.

 

 

Hình 18.6. R5 sữa dưới cứng khớp.

 

Thiếu nhiều răng (oligodontia)

Bệnh nhân được gọi là thiếu nhiều răng khi thiếu 6 hoặc nhiều hơn 6 răng bẩm sinh. Bệnh nhân thường có răng sữa tồn tại lâu, các răng vĩnh viễn mọc lên thường có kích thước nhỏ, thuôn và mảnh hơn bình thường. Tình trạng này gây khó khăn cho bệnh nhân khi nhai, nói và ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ.

 

Hình 18.7. Thiếu nhiều răng (oligodontia).

 

Hình 18.8. Bệnh nhân hình 18.7 đã được làm phục hình.

 

Loạn sản răng từng phần (răng ma)

Là bất thường hiếm gặp đặc trưng bởi sự hình thành bất thường của cả men, ngà và tủy răng. Sự thay đổi trong quá trình tuần hoàn máu khi mầm răng đang được hình thành và phát triển dường như góp phần gây ra tình trạng này.

Về vi thể, lớp ngà bị thu hẹp, men răng cũng mỏng bất thường, tủy răng rất rộng và có thể chứa sạn tủy. Răng hàm trên hay bị ảnh hưởng hơn răng hàm dưới.

Trên lâm sàng, răng ma có thân răng rất nhỏ, màu vàng nâu, chân răng kém phát triển. Bề mặt thân răng khiếm khuyết khiến răng rất dễ bị sâu, tiến triển đến tủy rất nhanh do men ngà rất mỏng. Răng ma thỉnh thoảng gây ra những cơn đau bất thường mà đôi khi cần thiết phải nhổ.

 

Hình 19.1. Loạn sản răng từng phần.

 

Hình 19.2. Răng ma.

 

Loạn sản ngoại bì

Là một nhóm gồm hơn 150 bệnh di truyền, được đặc trưng bởi sự thiếu hụt hay kém phát triển của các cấu trúc ngoại bì, như lông, tóc, móng, tuyến bã và răng.

Hầu hết bệnh nhân đều bị thiếu nhiều răng (oligodontia), các răng trên miệng đều nhỏ, thuôn và có dạng hình nón. Răng nanh thường ít khi bị thiếu, nhưng răng cửa thì hầu như luôn thiếu. Điều trị chủ yếu là thực hiện hàm giả, và phải thực hiện hàm giả mới khi trẻ lớn hơn do sự phát triển của xương hàm.

 

Thừa răng (hyperdontia)

Thường xảy ra ở hàm trên nhiều hơn hàm dưới (8:1), ở nam nhiều hơn nữ (2:1), ở răng vĩnh viễn nhiều hơn răng sữa (1% – 3% dân số so với 0.5%), thường bị 1 bên hơn là 2 bên. Răng dư hay gặp nhất là răng mesioden, giữa 2 răng cửa hàm trên, với thân răng hình nón, thuôn về phía chóp và chân răng nhỏ.

Răng dư thường gặp thứ 2 là răng cối lớn thứ 4 hàm trên. Thứ 3 là răng cối nhỏ hàm dưới. Răng dư có thể mọc trên khẩu cái, lồi củ, xoang mũi hoặc bờ ổ mắt. Các răng dư ít khi mọc đúng vị trí và có chức năng, trái lại gây nhét thức ăn, cản trở răng bình thường mọc, ảnh hưởng thẩm mĩ và chức năng ăn nhai. Nói chung, các răng dư thì nên được chỉ định nhổ.

 

Hình 20.1. Thừa răng, răng mesiodent trên đường giữa.

 

Hình 20.2. Thừa răng cửa.

 

Hình 20.3. Thừa răng cối nhỏ hàm dưới.

 

Hình 20.4. Thừa răng, răng cối lớn thứ 4 mọc ngoài má.

 

Loạn sản đòn sọ

Đặc trưng bởi khiếm khuyết xương, chủ yếu gặp ở xương đòn, xương sọ và các bất thường trong miệng.

Ở miệng có nhiều răng dư, nhiều nhất là vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn, các răng vĩnh viễn mọc trễ, răng sữa tồn tại quá lâu.

 

Hình 20.5. Loạn sản đòn sọ, thiếu xương đòn.

 

Hình 20.6. Loạn sản đòn sọ, răng sữa tồn tại lâu.

 

Hội chứng Gardner

Là tính trạng trội gây ra bởi đột biến gen Adenomatous Polyposis Coli (APC) trên nhiễm sắc thể 5. Hầu hết là do di truyền, nhưng cũng có thể do đột biến tự phát. Hội chứng Gardner đặc trưng bởi thừa răng, nhiều răng mọc ngầm, u răng, u xương hàm, chủ yếu được phát hiện vào tuổi dậy thì.

 

 

Hình 20.7. Hội chứng Gardner, u xương hàm dưới.

 

Hình 20.8. Hội chứng Gardner, u xương và nhiều răng mọc ngầm.

 

Nguồn: Color Atlas of Common Diseases – Robert P. Langlais, Craig S. Miller, Jill S. Gehrig.