January 15, 2021

Nhasiupdate

chuyên trang RHM

Hình 30.1. Các vị trí thường bị vi khuẩn tấn công.

 

Hình 30.2. Hình ảnh mô học sâu răng đến ngà.

 

Hình 30.3. Sâu răng mới chớm.

 

Sâu răng loại I (xoang I): vị trí ở mặt nhai các răng sau. R6 thường gặp hơn cả, lí do vì (1) nó là răng cối mọc sớm nhất, (2) nó mọc vào độ tuổi mà trẻ thích ăn kẹo và đồ ngọt, (3) trẻ chưa đủ tuổi để ý thức vệ sinh răng miệng tốt.

Xoang I cũng có thể thấy ở mặt trong các răng trước.

Hình 30.4. Sâu răng loại I ở mặt nhai R6.

 

Hình 30.6. Sâu loại I lớn ở R7 trên.

 

Hình 30.7. Sâu hố lưỡi mặt trong răng cửa.

 

Sâu răng loại II

Vị trí sâu nằm ở mặt bên của các răng sau. Sâu răng loại này rất khó chẩn đoán, đòi hỏi phải tinh mắt, thổi khô răng và đôi khi phải chụp phim. Lỗ sâu trên thực tế thường lớn hơn trên phim.

Hình 31.1. Sâu xoang II các răng cối hàm trên.

 

Hình 31.4. Sâu xoang II các răng cối nhỏ.

 

Sâu răng loại III

Vị trí ảnh hưởng là mặt bên các răng trước. Chẩn đoán sâu xoang III thường dễ hơn xoang II vì điểm tiếp xúc các răng trước thường dễ nhìn hơn.

Hình 31.5. Sâu xoang III răng cửa giữa và răng cửa bên.

 

Có thể chẩn đoán sâu xoang III bằng phương pháp soi đèn (H31.6).

Hình 31.6. Soi đèn để phát hiện sâu xoang III.

 

Sâu xoang III thường gặp ở răng cửa trên hơn là răng dưới. Nguyên nhân chủ yếu là do răng cửa dưới được làm sạch dưới tác dụng của lưỡi và dòng chảy nước bọt. Răng cửa hàm dưới bị sâu chứng tỏ bệnh nhân có nguy cơ sâu răng rất cao.

Sâu răng loại IV

Ảnh hưởng đến mặt bên và 1 góc rìa cắn các răng trước. Nguyên nhân thường do sâu xoang III không được điều trị.

Hình 32.1. Sâu xoang IV ở mặt gần răng cửa bên.

 

Hình 32.2. Sâu xoang IV và xoang I răng cửa bên.

 

Sâu răng loại V

Sâu dọc theo viền cổ răng cả răng trước và răng sau. Cần phân biệt sâu xoang V với mòn cổ răng.

Hình 32.3. Sâu xoang V các răng trước hàm trên.

 

Hình 32.4. Sâu xoang V ở răng 4 dưới.

 

Sâu răng loại VI

Là sâu ở rìa cắn hoặc đỉnh múi răng.

Hình 32.5. Sâu xoang VI ở đỉnh múi răng cối nhỏ.

 

Các dạng sâu răng khác

Sâu chân răng, còn gọi là sâu cement hay sâu răng người lớn tuổi. Thường gặp nhiều trên các răng cối ở những bệnh nhân lớn tuổi, nguyên nhân chủ yếu là (1) tụt nướu làm lộ chân răng, (2) bệnh nha chu làm lộ chân răng và (3) giảm tiết nước bọt.

Hình 32.6. Sâu chân răng ở răng cối lớn hàm trên.

 

Sâu răng tái phát, là sâu răng xung quanh 1 miếng trám.

Hình 32.8. Sâu răng tái phát dưới răng cối nhỏ và răng cối lớn.

 

Sâu răng có thể tiến triển nhanh hoặc chậm, và sâu tới tủy trước khi bệnh nhân kịp nhận ra. 1 vài loại sâu răng tiến triển rất nhanh, với nguyên nhân gây bệnh rất đặc trưng. Chúng được gọi bằng những thuật ngữ riêng biệt. Chẳng hạn như, “sâu răng lan tràn” (rampant caries) phát triển với tốc độ cực nhanh ở trẻ em hoặc thanh niên (xem thêm miệng Meth). 

 

Hình 33.3. Sâu răng lan tràn.

 

Sâu răng bú bình là hậu quả của việc răng sữa tiếp xúc lâu ngày với dung dịch có chứa đường trong bình sữa của trẻ nhỏ.

Hình 33.4. Sâu răng bú bình.

 

Sâu răng xạ trị (radiation caries) phát triển nhanh ở những bệnh nhân đang điều trị bệnh bằng tia xạ, dẫn đến hoạt động tiết nước bọt kém. Loại sâu răng này xuất hiện dọc viền cổ răng, phát triển nhanh đến mức hủy hoại toàn bộ thân răng.

Sâu răng xạ trị.

Nguồn: Color Atlas of Common Diseases – Robert P. Langlais, Craig S. Miller, Jill S. Gehrig.