September 15, 2021

Nhasiupdate

Chuyên trang RHM

Phục hình tháo lắp toàn hàm – P2

Lấy dấu sau cùng với khay lấy dấu cá nhân

 

Thử khay trên miệng

 

Việc cắt giới hạn khay cách ngách hành lang 2 mm là rất quan trọng. Đặc biệt đối với hàm dưới, khi bệnh nhân thả lỏng lưỡi thì vật liệu lấy dấu sẽ chảy tràn ra các vùng lân cận. Đối với hàm trên thì cần chú ý vật liệu chảy xuống họng.

Khi thử khay phải thấy viền khay cách ngách hành lang 2 mm khi kéo môi má lên. Ngoài ra phải chú ý các chỗ vướng ở thắng môi, má, lưỡi. Khi thử khay hàm dưới, phải cho bệnh nhân cong lưỡi lên (H4.1) và đẩy lưỡi ra trước (H4.2) để kiểm tra xem khay có mở rộng quá mức làm vướng sàn miệng hay không.

 

Hình 4.1. Thử khay hàm dưới thì cho bệnh nhân cong lưỡi lên.

 

Hình 4.2.

 

Nếu khay bị đẩy lên thì có thể do thành khay cản trở thắng lưỡi. Có thể sử dụng bút chì tím (H4.6) để đánh dấu vị trí các thắng, sau đó đặt khay vào (H4.7) để nhận biết chính xác chỗ cần mài chỉnh trên khay.

 

Hình 4.6. Đánh dấu vị trí thắng ở cả 2 phía, ngoài và trong.

 

 

Hình 4.10. Đánh dấu đối với hàm trên.

 

 

Hình 4.7. Đặt khay trở lại miệng để ghi dấu thắng.

 

 

Hình 4.11. Dấu in lên khay.

 

 

Hình 4.8. Mài chỉnh chỗ vừa in dấu.

 

Mài chỉnh khay vừa phải, sao cho đủ cách 2 mm giữa các thắng, ngách hành lang với thành khay khi kéo môi lên.

Hình 4.12 – 4.14.

 

Vùng giới hạn khẩu cái sau (posterior palatal seal area) được đánh dấu bằng cách chấm 1 điểm ở chính giữa khẩu cái, nơi mà cơ khẩu cái sau bám vào, chấm 2 điểm 2 bên ở rãnh chân bướm hàm (H4.15 – 4.17). Đường này là đường rung quan trọng trong phục hình toàn hàm.

 

Hình 4.15 – 4.17. Đánh dấu đường rung sau khẩu cái bằng bút chì tím.

 

Nối 3 điểm này lại với nhau (H4.18) và đặt khay vào miệng.

 

Hình 4.18.

 

Sau vài giây thì lấy khay ra, có thể thấy rõ đường bút màu in trên thành khay phía sau (H4.19).

Hình 4.19.

 

Mài chỉnh khay theo đường này, đặt khay lại vào miệng. Cho bệnh nhân nói “Ahhhhh” và nuốt. Khi đó khẩu cái mềm sẽ được nâng lên (H4.20 – 4.22) nên có thể quan sát rõ ràng xem thử đã mài chỉnh khay đủ hay chưa.

 

Hình 4.20 – 4.22. Đánh giá giới hạn khay phía khẩu cái.

 

 

Làm vành khít cho khay

 

Hình 4.23. Hơ nóng thỏi nhiệt dẻo.

 

Hình 4.36.

 

 

Hình 4.24. Cho hợp chất nhiệt dẻo đã mềm lên viền khay và nắn tạo hình với ngón tay ướt.

 

Hình 4.37 và 4.38. Thực hiện tương tự với khay hàm trên.

 

 

Hình 4.25. Hơ nóng lại nếu nhựa bị cứng.

 

 

Hình 4.26. Nhúng khay vào nước nóng.

 

Hình 4.41. Tương tự với khay hàm trên.

 

 

Hình 4.27. Sau đó đưa ngay khay vào miệng.

 

Hình 4.42.

 

 

Hình 4.28 và 4.29. Kéo môi má và tạo hình vành khít bằng ngón tay.

 

Hình 4.43.

 

 

Hình 4.30. Nhựa có thể chảy vào trong lòng khay.

 

 

Hình 4.31. Nhúng khay vào nước lạnh trước khi mài chỉnh.

 

 

Hình 4.45.

 

 

Hình 4.32. Dùng lưỡi dao bén gọt bỏ phần nhựa dư.

 

 

Hình 4.46.

 

 

Hình 4.33. Điều chỉnh xong thì hơ nóng lại.

 

 

Hình 4.34. Nhúng khay lại vào nước nóng.

 

 

Hình 4.35. Cho khay lại vào miệng, lấy ra, nhúng lại nước lạnh rồi làm khô.

 

 

Hình 4.49. Quan sát phần vành khít để thấy rõ các rãnh và thắng.

 

Vành khít vùng giới hạn sau khẩu cái sẽ được thực hiện sau cùng (H4.50).

Hình 4.50. Cho nhựa lên thành còn lại của khay (thành sau).

 

Khi cho khay vào miệng phải cảm nhận được lực hít, nghĩa là kháng lại lực tháo khay ra. Khi làm khay cá nhân, tốt nhất là nên để lớp sáp lại. Chỉ lấy sáp ra ngay trước khi thực hiện lấy dấu sau cùng.

Hình 4.51. Làm vành khít tiếp tục như vành khít hành lang.

 

Hình 4.54. Lấy sáp ra khỏi khay bằng dao sáp số 7.

 

Cắt gọt và điều chỉnh nhựa cho thuôn đều trong lòng khay để không làm kích thích vòm miệng bệnh nhân.

 

Chuẩn bị bề mặt khay trước khi lấy dấu

Hình 4.55. Đổ 1 lượng nhỏ keo dán vào trong lòng khay.

 

Hình 4.56. Dùng cọ (chổi) quét đều và dàn mỏng keo dán.

 

Chờ vài phút cho khô keo, nếu keo còn ướt hoặc quá dày thì vật liệu sẽ dễ bong ra khỏi khay.

Xem tiếp phần 3 tại đây.

Nguồn: Treating the complete denture patient – Carl F.Driscoll, William Glen Golden.